Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học đề tài "Thiết kế hệ thống bài tập toán lớp 1 sử dụng trong giờ ôn luyện, tự học" do sinh viên Khamkhai Keodanoonlasa (chuyên ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Quảng Nam) thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Đinh Thị Ngàn Thương vào tháng 5 năm 2018. Nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học giáo dục, chuyên ngành phương pháp dạy học môn Toán ở tiểu học.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI/XII và định hướng học tập suốt đời của UNESCO ("Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình"). Ở bậc tiểu học, môn Toán đặt nền móng phát triển tư duy logic, khả năng trừu tượng hóa và giải quyết vấn đề thực tế. Đối với học sinh lớp 1, quá trình chuyển giao hoạt động chủ đạo từ "chơi" ở mầm non sang "học" đòi hỏi phương pháp tổ chức dạy học trực quan, sinh động. Bên cạnh các tiết học chính khóa, tiết ôn luyện và tự học đóng vai trò củng cố, bổ sung kiến thức. Tuy nhiên, trên thực tế, giáo viên tiểu học còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự biên soạn bài tập phân hóa, thường chỉ cho học sinh làm lại các bài còn tồn đọng trong vở bài tập, làm giảm hiệu quả học tập và hứng thú của học sinh.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là thiết kế hệ thống bài tập môn Toán lớp 1 sử dụng trong các tiết ôn luyện, tự học nhằm phát huy tính tích cực, kích thích hứng thú, rèn luyện kỹ năng thực hành và nâng cao khả năng nhận thức cho học sinh.

Đề tài xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu cơ sở lí luận liên quan đến việc thiết kế hệ thống bài tập toán trong dạy học các giờ ôn luyện, tự học lớp 1.
  2. Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng của việc thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập toán trong dạy học các giờ ôn luyện, tự học lớp 1 của giáo viên hiện nay.
  3. Tìm hiểu nội dung chương trình, sách giáo khoa môn Toán lớp 1 hiện hành.
  4. Thiết kế hệ thống bài tập toán hỗ trợ cho việc dạy học các giờ ôn luyện, tự học ở lớp 1.

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống bài tập toán trong giờ ôn luyện, tự học cho học sinh lớp 1. Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy và học trong giờ ôn luyện, tự học môn Toán lớp 1.

Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian được giới hạn tại Trường Tiểu học Kim Đồng, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; đối tượng khảo sát gồm 5 giáo viên trực tiếp dạy lớp 1 và 100 học sinh khối 1; thời gian thực hiện hoàn thành vào tháng 5 năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa cơ bản về bài tập toán học, bản chất quá trình giải toán và đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh giai đoạn 1 (lớp 1, 2, 3). Bài tập toán ở tiểu học được xác định là đơn vị kiến thức cần giải quyết bằng vốn tri thức, kỹ năng và phương pháp đã tích lũy. Hoạt động giải toán là hình thức chủ yếu của tư duy toán học, giúp học sinh tiểu học chuyển hóa kiến thức trừu tượng thành kỹ năng thực hành.

Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1 được phân tích qua 4 thành tố tâm lý cốt lõi:

  • Chú ý: Chú ý không chủ định chiếm ưu thế tuyệt đối, tính tập trung kém bền vững, dễ bị phân tán bởi kích thích ngoại cảnh, thời gian chú ý có chủ định chỉ duy trì tối đa từ 25 đến 30 phút.
  • Ghi nhớ: Trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế so với trí nhớ từ ngữ - logic; ghi nhớ máy móc phát triển mạnh hơn ghi nhớ có ý nghĩa; học sinh chưa biết lập dàn ý hay tự tạo điểm tựa ghi nhớ.
  • Tưởng tượng: Hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, dễ thay đổi, chịu sự chi phối mạnh mẽ từ xúc cảm.
  • Tư duy: Mang tính trực quan - hành động và cụ thể - hình thức, chủ yếu dựa trên thuộc tính bên ngoài của đối tượng; hoạt động phân tích - tổng hợp còn sơ đẳng.

Về nội dung chương trình Toán lớp 1, nghiên cứu phân tích hệ thống kiến thức chuẩn gồm 4 mạch chính: Số học (các số đến 10, phép cộng trừ trong phạm vi 10, các số đến 100, phép cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100); Đại lượng và đo đại lượng (xăng-ti-mét, tuần lễ, ngày trong tuần, xem đồng hồ đúng giờ); Yếu tố hình học (hình vuông, hình tròn, hình tam giác, điểm, đoạn thẳng); Giải bài toán có lời văn (các bài toán đơn thêm, bớt giải bằng một phép tính cộng hoặc trừ).

Tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các văn bản chỉ đạo đổi mới giáo dục, chương trình môn Toán lớp 1, sách giáo khoa, sách bài tập và các công trình khoa học liên quan.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Điều tra bằng phiếu hỏi (Anket): Sử dụng bộ câu hỏi khảo sát thực trạng trên mẫu gồm 5 giáo viên giảng dạy khối lớp 1 và 100 học sinh lớp 1 tại Trường Tiểu học Kim Đồng.
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ các tiết tăng cường, ôn luyện, tự học toán có sử dụng bài tập và trò chơi học tập.
    • Phương pháp đàm thoại: Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với giáo viên đứng lớp về thực tế tổ chức giờ ôn luyện.
    • Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến giảng viên Khoa Tiểu học – Mầm non (Trường Đại học Quảng Nam) và giáo viên tiểu học cốt cán.
  • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu khảo sát, tính tỷ lệ phần trăm, lập 11 bảng thống kê số liệu và 11 biểu đồ minh họa thực trạng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thiết kế hệ thống bài tập toán lớp 1 trong giờ ôn luyện, tự học

Chương này tập trung làm rõ hai nội dung: khung lý luận dạy học toán lớp 1 và kết quả điều tra thực trạng tại cơ sở giáo dục tiểu học.

Về mặt lý thuyết, tác giả phân tích cấu trúc chương trình Toán lớp 1 hiện hành, khẳng định vai trò của bài tập toán đối với sự hình thành tư duy cụ thể của trẻ 6 tuổi. Tác giả tổng hợp các dạng bài tập toán có trong chương trình chính khóa làm căn cứ đối chiếu: dạng bài đọc - đếm - viết số, so sánh số, đặt tính rồi tính, tính nhẩm, điền dấu phép tính, đo vẽ đoạn thẳng, đọc lịch - đồng hồ, nhận dạng hình học và giải toán có lời văn một bước tính.

Về mặt thực tiễn, số liệu khảo sát trên 5 giáo viên giảng dạy lớp 1 tại Trường Tiểu học Kim Đồng (thành phố Tam Kỳ) phản ánh thực trạng nhận thức và thao tác sư phạm trong tiết tự học:

Nội dung khảo sát giáo viên (N = 5) Tiêu chí phân loại Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Mức độ cần thiết của việc sử dụng hệ thống bài tập Rất cần thiết
Không cần thiết
5/5
0/5
100%
0%
Thực trạng tự thiết kế hệ thống bài tập Có thiết kế bài tập riêng
Không tự thiết kế
3/5
2/5
60%
40%
Đánh giá hiệu quả đối với học sinh Rất hiệu quả
Hiệu quả
Không hiệu quả
4/5
1/5
0/5
80%
20%
0%
Số lượng bài tập đưa vào 1 tiết ôn luyện Dưới 3 bài tập
Từ 3 – 4 bài tập
Trên 5 bài tập
1/5
3/5
1/5
20%
60%
20%
Tác dụng nhận diện được của bài tập Củng cố kiến thức
Rèn kỹ năng giải bài tập
Tăng khả năng tư duy
Bao gồm cả 3 tác dụng trên
1/5
1/5
2/5
3/5
20%
20%
40%
60%
Khó khăn gặp phải khi thiết kế bài tập Khó thiết kế bài tập theo mức độ phân hóa
Tốn nhiều thời gian
Bài tập không phù hợp học sinh
4/5
2/5
0/5
80%
40%
0%
Nguồn ngữ liệu bài tập giáo viên sử dụng Tự biên soạn, soạn thảo
Sách giáo khoa chính khóa
Sách tham khảo nâng cao
3/5
2/5
1/5
60%
40%
20%

Kết quả khảo sát trên 100 học sinh lớp 1 tại cùng đơn vị trường học:

Nội dung khảo sát học sinh (N = 100) Tiêu chí đánh giá Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Mức độ hứng thú làm bài tập trong giờ ôn luyện Thích làm bài tập
Không thích làm bài tập
60/100
40/100
60%
40%
Cảm nhận của học sinh sau tiết học có bài tập thiết kế Tạo sự thoải mái và hứng thú
Phát huy tính tích cực bản thân
Cảm thấy mệt mỏi, uể oải
40/100
30/100
30/100
40%
30%
30%
Nhận thức về sự cần thiết của bài tập ôn luyện Rất cần thiết
Cần thiết
Không cần thiết
70/100
30/100
0/100
70%
30%
0%
Đánh giá không khí lớp học khi giải bài tập Sôi nổi
Bình thường
Trầm
50/100
30/100
20/100
50%
30%
20%

Dữ liệu thực trạng chỉ ra mâu thuẫn: 100% giáo viên và học sinh đều nhận thức được tính cần thiết của bài tập ôn luyện, nhưng có đến 40% giáo viên không tự xây dựng bài tập riêng mà chỉ cho học sinh làm nốt bài tập tồn đọng; 80% giáo viên lúng túng khi xây dựng bài tập phân hóa theo trình độ; 40% học sinh vẫn chưa có hứng thú và 30% học sinh cảm thấy mệt mỏi khi tham gia các tiết ôn luyện, tự học.

Chương 2: Thiết kế hệ thống bài tập toán lớp 1

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã phân tích, tác giả đề xuất giải pháp sư phạm bao gồm hệ thống căn cứ, nguyên tắc, quy trình và các dạng bài tập thực hành cụ thể.

Tác giả xác định 3 căn cứ thiết kế:

  1. Căn cứ vào mục tiêu, nội dung dạy học môn Toán lớp 1.
  2. Căn cứ vào đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1 (giới hạn chú ý 25 - 30 phút, ưu tiên trực quan, hình ảnh nhiều màu sắc).
  3. Căn cứ vào thực trạng dạy học tiết ôn luyện toán tại trường tiểu học.

Hệ thống bài tập phải tuân thủ 6 yêu cầu (vừa sức học sinh; rèn kỹ năng nhanh nhẹn, linh hoạt; gắn liền thực tiễn cuộc sống; hình thức đa dạng phong phú; phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi; số liệu rõ ràng, chính xác) và 6 nguyên tắc xây dựng:

  • Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học: Đảm bảo tính chính xác về mặt toán học và chuẩn mực ngôn ngữ.
  • Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển: Kích thích trí tò mò, phát triển óc sáng tạo và tư duy độc lập.
  • Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục: Rèn luyện tính cẩn thận, ý chí vượt khó, thói quen làm việc có kế hoạch.
  • Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống: Các bài tập có liên hệ chặt chẽ, độ khó nâng cao dần.
  • Nguyên tắc đảm bảo tính tích hợp: Lồng ghép giữa số học, hình học, đo đại lượng và thực tế đời sống.
  • Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm: Phù hợp trình độ nhận thức, giúp học sinh phát triển năng lực tự học, tự đánh giá.

Quy trình thiết kế bài tập được chuẩn hóa qua 6 bước:

  • Bước 1: Xác định đối tượng thiết kế (học sinh lớp 1; phân hóa theo nhóm trình độ: đại trà, khá, giỏi).
  • Bước 2: Xác định mảng kiến thức cần xây dựng bài tập.
  • Bước 3: Xác định mục tiêu xây dựng bài tập.
  • Bước 4: Xác định mảng kiến thức cụ thể (Số học, Đại lượng và đo đại lượng, Yếu tố hình học, Giải toán có lời văn).
  • Bước 5: Xác định nội dung bài tập (xác định đối tượng giải quyết, tư liệu dữ kiện, giả thiết, câu lệnh yêu cầu, thiết lập đề bài hoàn chỉnh).
  • Bước 6: Xây dựng đáp án và hướng dẫn giải. Tác giả minh họa quy trình qua ví dụ thiết kế bài toán có lời văn: Hà có 35 que tính, Lan có 43 que tính. Hỏi hai bạn có tất cả bao nhiêu que tính? (Đáp án: 35 + 43 = 78 que tính).

Phần trọng tâm của chương là hệ thống 33 bài tập toán minh họa, tập trung chủ yếu vào mạch Số học và phép tính:

  • Dạng 1: Thực hành về đếm, đọc, viết các số từ 0 đến 100 (Bài 1 đến Bài 10): Gồm các tiểu dạng đếm đồ vật nối với số, viết số tương ứng từ chữ, điền số vào vạch tia số, điền số tròn chục (Bài 6), phân tích cấu tạo thập phân của số (Bài 8: Số 75 gồm 7 chục và 5 đơn vị; Bài 9: viết dạng 59 = 50 + 9; Bài 10: câu hỏi trắc nghiệm Đúng/Sai về cấu tạo số 88).
  • Dạng 2: Quan hệ về thứ tự và quan hệ số lượng (Bài 11 đến Bài 20): Gồm tiểu dạng nhìn tranh điền dấu so sánh, điền dấu <, >, = giữa số hoặc biểu thức (Bài 12, Bài 13: so sánh 15 + 2 và 9; 14 + 25 và 15 + 24; 62 - 62 và 62), nối số với bất đẳng thức (Bài 14), sắp xếp nhóm số theo thứ tự từ bé đến lớn và ngược lại (Bài 15: dãy 72, 54, 75, 89; Bài 16: dãy 42, 59, 70, 90), tìm số lớn nhất/bé nhất trong nhóm số (Bài 17, Bài 18), tìm số liền trước và số liền sau (Bài 19, Bài 20: số liền trước 100, số liền sau 88, hoàn thiện bảng số liền trước - đã biết - liền sau).
  • Dạng 3: Phép cộng, phép trừ trong phạm vi 100 không nhớ (Bài 21 đến Bài 33): Gồm thực hành tính giá trị biểu thức 2 dấu phép tính (Bài 21: 50 + 18 + 1; 90 - 50 - 40; 42 - 0 - 41), đặt tính rồi tính (Bài 22: 15 - 5; 7 + 12; 14 - 3), điền dấu +, - vào chỗ chấm hoặc ô trống (Bài 23, Bài 24), điền số vào sơ đồ mũi tên biến hóa (Bài 25, Bài 26, Bài 27: tìm thành phần chưa biết qua sơ đồ tổng hiệu), nhìn tranh viết phép tính (Bài 28, Bài 29), tính nhẩm (Bài 30, Bài 31: 17 + 0 + 3; 8 + 12 + 5; 20 - 10 - 1), và viết phép tính thích hợp theo tóm tắt bài toán đơn (Bài 32: Có 25 que tính, bớt đi 5 que tính, còn lại bao nhiêu; Bài 33: Hà có 36 quả cam, Lan có 12 quả cam, tất cả có bao nhiêu quả).

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể:

  • Phản ánh thực trạng định lượng của việc dạy học ôn luyện môn Toán lớp 1 tại Trường Tiểu học Kim Đồng qua 11 bảng thống kê số liệu: 100% giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống bài tập, 60% giáo viên tự soạn bài tập nhưng có đến 80% giáo viên gặp khó khăn trong việc thiết kế bài tập phân hóa theo trình độ học sinh; 40% học sinh chưa có hứng thú và 30% học sinh cảm thấy mệt mỏi trong giờ tự học.
  • Đề xuất được hệ thống nguyên tắc sư phạm (6 nguyên tắc, 6 yêu cầu) và chuẩn hóa quy trình thiết kế bài tập gồm 6 bước rõ ràng, giúp giáo viên tiểu học có thể áp dụng trực tiếp trong thực tiễn giảng dạy.
  • Xây dựng được hệ thống 33 bài tập toán lớp 1 đa dạng về hình thức thể hiện (trắc nghiệm Đúng/Sai, nối ô, điền khuyết, sơ đồ biến hóa, đặt tính, tự luận ngắn), khắc phục tình trạng đơn điệu khi giáo viên chỉ cho học sinh làm lại vở bài tập chính khóa.

Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn, tác giả tự đánh giá:

  • Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về thiết kế bài tập toán lớp 1 phục vụ riêng cho các tiết học buổi hai (ôn luyện, tự học) - một mảng dạy học ít được chú trọng hơn so với các tiết hình thành kiến thức mới.
  • Khác với các công trình nghiên cứu trước tại Trường Đại học Quảng Nam chỉ tập trung vào một phân mảng hẹp của khối lớp lớn hơn (như nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy năm 2016 về bài tập trắc nghiệm lớp 4, hoặc nghiên cứu của Nguyễn Thị Thi Thương năm 2016 về toán có lời văn lớp 4), đề tài này tập trung vào đối tượng học sinh lớp 1 với đặc thù chuyển giao tâm sinh lý, khảo sát toàn diện các dạng bài tập củng cố nhận thức ban đầu.

Về mặt kiến nghị, tác giả đề xuất nhà trường tiểu học cần tăng cường kiểm tra, hỗ trợ tổ chuyên môn trong việc tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề về thiết kế bài tập ôn luyện; tạo điều kiện cung cấp thêm thiết bị, đồ dùng trực quan phục vụ các tiết tự học toán cho giáo viên và học sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:

  • Quy mô mẫu khảo sát hẹp: Dữ liệu thực trạng mới chỉ thu thập trên mẫu nhỏ gồm 5 giáo viên và 100 học sinh tại một trường tiểu học duy nhất (Trường Tiểu học Kim Đồng, thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam), chưa mở rộng phạm vi ra các trường có điều kiện cơ sở vật chất và đối tượng học sinh khác nhau trên địa bàn tỉnh.
  • Chưa triển khai thực nghiệm sư phạm đối chứng: Nghiên cứu dừng lại ở bước khảo sát thực trạng và xây dựng hệ thống bài tập mẫu; văn bản chưa có dữ liệu thực nghiệm sư phạm trên hai nhóm lớp (thực nghiệm và đối chứng) để kiểm định định lượng mức độ tiến bộ về mặt điểm số hay năng lực của học sinh sau khi áp dụng hệ thống bài tập.
  • Độ bao phủ của hệ thống bài tập: Trong 33 bài tập minh họa ở Chương 2, tác giả tập trung chủ yếu vào mạch Số học và phép tính; các mạch Đại lượng (xem giờ, đo độ dài) và Yếu tố hình học mới chỉ dừng lại ở phần phân loại khung lý thuyết, chưa có nhiều bài tập thực hành chi tiết tương ứng trong văn bản.

Hướng phát triển tiếp theo của đề tài là tiến hành thực nghiệm sư phạm trên diện rộng, kiểm định tính hiệu quả qua các bài kiểm tra đánh giá định kỳ, đồng thời hoàn thiện hệ thống bài tập phủ đều cả 4 mạch kiến thức của môn Toán lớp 1.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho các đối tượng:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học và Sư phạm Toán tiểu học: Tham khảo cấu trúc khóa luận tốt nghiệp, phương pháp thiết kế công cụ khảo sát thực trạng bằng phiếu hỏi Anket, kỹ thuật xử lý số liệu thống kê mô tả, cũng như quy trình 6 bước thiết kế bài tập toán học.
  • Giáo viên trực tiếp giảng dạy khối lớp 1: Khai thác trực tiếp hệ thống 33 bài tập thuộc mạch Số học ở Chương 2 làm tư liệu giảng dạy cho các tiết tăng cường, ôn luyện buổi hai hoặc giờ dạy tự học; áp dụng các dạng bài tập trực quan (điền số tia số, sơ đồ biến hóa, nối bất đẳng thức) nhằm giảm bớt sự nhàm chán cho học sinh.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn tổ khối lớp 1: Sử dụng bảng tổng hợp khó khăn của giáo viên (đặc biệt là khó khăn trong việc thiết kế bài tập phân hóa trình độ, chiếm 80%) để định hướng nội dung sinh hoạt chuyên môn, bồi dưỡng phương pháp ra đề và biên soạn bài tập phù hợp tâm lý lứa tuổi học sinh 6 tuổi.

Câu hỏi thường gặp

1. Khảo sát thực trạng cho thấy tỷ lệ giáo viên tự thiết kế bài tập cho giờ ôn luyện môn Toán lớp 1 là bao nhiêu và lý do của những giáo viên không thiết kế là gì?
Kết quả điều tra 5 giáo viên tại Trường Tiểu học Kim Đồng cho thấy có 60% (3/5) giáo viên có tự thiết kế bài tập riêng cho tiết ôn luyện, tự học. Ngược lại, có 40% (2/5) giáo viên không tự thiết kế; khi được hỏi, nhóm giáo viên này cho biết trong các tiết ôn luyện thường chỉ cho học sinh làm tiếp các bài tập còn chưa hoàn thành xong trong vở bài tập toán của giờ chính khóa.

2. Khó khăn lớn nhất mà giáo viên gặp phải khi thiết kế bài tập cho tiết ôn luyện toán lớp 1 là gì?
Theo bảng số liệu số 6 trong văn bản, khó khăn lớn nhất của giáo viên là không thiết kế được bài tập phù hợp với các mức độ, trình độ khác nhau của học sinh, chiếm tỷ lệ 80% (4/5 giáo viên lựa chọn). Khó khăn tiếp theo là tốn nhiều thời gian, chiếm 40% (2/5 giáo viên). Không có giáo viên nào cho rằng bài tập không phù hợp với học sinh (0%).

3. Số lượng bài tập mà phần lớn giáo viên lựa chọn sử dụng trong một tiết ôn luyện toán lớp 1 là bao nhiêu?
Theo bảng số liệu số 4, đa số giáo viên (chiếm 60%, tức 3/5 người) thiết kế từ 3 đến 4 bài tập trong một tiết ôn luyện, tự học nhằm phù hợp với giới hạn chú ý và đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 1. Có 20% giáo viên sử dụng dưới 3 bài tập và 20% giáo viên đưa vào trên 5 bài tập trong một tiết.

4. Khảo sát nhận thức của 100 học sinh lớp 1 phản ánh trạng thái tâm lý của các em sau các tiết học có bài tập tự thiết kế như thế nào?
Theo bảng số liệu số 9, sau các tiết ôn luyện có sử dụng bài tập do giáo viên tự thiết kế, có 40% học sinh cảm thấy tạo được sự thoải mái và hứng thú, 30% học sinh nhận thấy bài tập giúp phát huy tính tích cực của bản thân trong giờ học. Tuy nhiên, vẫn có 30% học sinh cảm thấy mệt mỏi và uể oải trong giờ học, cho thấy bài tập cần tiếp tục được điều chỉnh linh hoạt và kết hợp trò chơi học tập để giảm tải áp lực nhận thức cho các em.

5. Quy trình thiết kế bài tập toán lớp 1 do tác giả xây dựng gồm những bước cụ thể nào?
Quy trình thiết kế bài tập gồm 6 bước tuần tự:

  • Bước 1: Xác định đối tượng thiết kế (học sinh lớp mấy, phân loại trình độ: giỏi, khá, đại trà).
  • Bước 2: Xác định mảng kiến thức cần xây dựng bài tập.
  • Bước 3: Xác định mục tiêu xây dựng bài tập.
  • Bước 4: Xác định mảng kiến thức cụ thể (Số học, Đại lượng và đo đại lượng, Yếu tố hình học, Giải toán có lời văn).
  • Bước 5: Xác định nội dung bài tập (đối tượng giải quyết, dữ kiện liên quan, giả thiết, câu lệnh yêu cầu, nêu đề bài hoàn chỉnh).
  • Bước 6: Xây dựng đáp án và lời giải chi tiết.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Khamkhai Keodanoonlasa đã làm rõ cơ sở lý luận dạy học toán lớp 1 và đánh giá cụ thể thực trạng tổ chức giờ ôn luyện, tự học tại Trường Tiểu học Kim Đồng qua hệ thống dữ liệu khảo sát 5 giáo viên và 100 học sinh. Đề tài đã xây dựng được khung nguyên tắc sư phạm, chuẩn hóa quy trình thiết kế bài tập 6 bước và đề xuất 33 bài tập thực hành minh họa thuộc mạch Số học nhằm giải quyết khó khăn của giáo viên trong việc cá thể hóa bài tập. Mặc dù còn hạn chế về phạm vi mẫu và chưa triển khai thực nghiệm sư phạm đối chứng, nghiên cứu vẫn là tài liệu thực hành có giá trị tham khảo rõ ràng cho sinh viên sư phạm tiểu học và giáo viên giảng dạy lớp 1 trong việc đổi mới phương pháp dạy học buổi hai.