CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TOÁN LỚP 1 TRONG GIỜ ÔN LUYỆN, TỰ HỌC 1.Một số vấn đề về bài tập toán 1. Bài tập toán Theo nghĩa rộng, bài tập toán là bất cứ vấn đề nào của khoa học hay cuộc sống cần được giải quyết. Theo nghĩa hẹp hơn, bài tập toán là vấn đề nào đó của khoa học cần được giải quyết bằng phương pháp của toán học.
Đại từ Tiếng Việt xác định rằng: Bài tập toán là vấn đề cần phải giải quyết tìm ra đáp số bằng quy tắc, định lí. Hoặc, bài tập toán là vấn đề trong cuộc sống hóc búa chưa giải quyết được. Trong cuộc sống hằng ngày bài toán được ngầm hiểu là một công việc hay một nhiệm vụ cần giải quyết. Ở tiểu học bài tập toán được hiểu theo nghĩa: là đơn vị kiến thức cần được giải quyết bằng những kiến thức, kĩ năng và phương pháp đã có; thậm chí còn được hiểu một cách đơn giản nữa: Bài tập toán là một bài tập trong sách giáo khoa mà người học phải giải quyết trong thời gian đã định.
Giải toán Giải toán là quá trình đi tìm đáp án (phần cần tìm) của bài toán. Về bản chất quá trình giải là một suy luận hoặc một dãy các suy luận liên tiếp nhằm rút ra điều cần tìm từ những dữ kiện đã biết (phần đã cho). Quá trình giải được ghi lại thành bài giải, cuối bài giải thường ghi rõ câu trả lời hoặc đáp số. Ngoài ra, xem xét ở góc độ nội dung, chương trình dạy học thì giải toán còn được hiểu là mảng kiến thức trong chương trình môn Toán ở tiểu học.
Vai trò của việc giải bài tập toán trong học tập của học sinh Bài toán là một tình huống kích thích đòi hỏi một lời giải đáp không có sẵn ở người giải tại thời điểm bài toán được đưa ra. Môn Toán có vai trò hết sức quan trọng với sự phát triển tư duy, hình thành kiến thức cho học sinh Tiểu học. Với 6 HS có thể xem giải toán là hình thức chủ yếu của hoạt động toán học. Các bài tập toán ở trường Tiểu học là một phương tiện rất hiệu quả và không thể thay thế được trong việc giúp học sinh nắm vững tri thức, phát triển tư duy, hình thành kĩ năng kĩ xảo, ứng dụng toán học vào thực tiễn.
Giải bài tập toán là điểm xuất phát, tạo động cơ để củng cố kiến thức về các biểu tượng, khái niệm, quy tắc và các tính chất toán học, vận dụng và khắc sâu các kiến thức đã học, rèn luyện kĩ năng thực hành tính toán. Chỉ có con đường thông qua việc giải các bài tập toán thì HS mới có thể nắm vững các kiến thức Toán học. Đồng thời, giúp GV dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc “lỗ hỏng” kiến thức của HS. Giải bài tập toán là phương tiện để rèn luyện kĩ năng, vận dụng kiến thức và kĩ năng thực hành vào thực tiễn, đời sống học tập.
Nội dung các BTT phản ánh kiến thức đa dạng, phong phú về thực tế cuộc sống. Qua đó, giúp HS phát triển kĩ năng quan sát, óc tưởng tượng, khả năng giải quyết vấn đề thực tế, khả năng sử dụng vốn ngôn ngữ và biết tích lũy vốn sống. Giải BTT là phương tiện phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp và khả năng suy luận, tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán, tìm tòi của HS. Giải BTT giúp cho quá trình thành và rèn luyện các năng lực tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa.
phát triển nhanh. Giải BTT còn là phương tiện góp phần giáo dục toàn diện nhân cách cho HS, rèn luyện những đức tính, phẩm chất tốt. Qua việc giải các BTT, HS được rèn luyện những phẩm chất và phong cách làm việc của người lao động mới như: ý chí vượt khó, thói quen xét đoán mọi việc có căn cứ, tính cẩn thận, chu đáo, làm việc có kế hoạch. Đặc điểm nhận thức của học sinh giai đoạn 1 – lớp 1, 2, 3 1.
Chú ý Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có 7 cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,.Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập. Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình.
Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài,.Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định. Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian. Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ. Ghi nhớ Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic Giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa.
Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu. Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức. Tưởng tượng Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn. Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau: Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi.
Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương 8 đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,. Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em. Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện.
Tư duy Tư duy của trẻ lớp 1 là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể. Nhờ ảnh hưởng của hoạt động học tập, HS Tiểu học dần dần chuyển từ nhận thức các mặt bên ngoài của hiện tượng sang những thuộc tính và dấu hiệu bản chất của hiện tượng vào tư duy. Hoạt động phân tích – tổng hợp còn sơ đẳng, HS các lớp đầu bậc Tiểu học chủ yếu tiến hành phân tích – trực quan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng. Chương trình môn toán lớp 1 1.
Mục tiêu môn toán lớp 1 1. Kiến thức: - Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phép đếm; về các số tự nhiên trong phạm vi 100. Phép cộng, phép trừ không nhớ trong phạm 100. - Về độ dài và đo độ dài trong phạm vi 20cm.
- Về tuần lễ và ngày trong tuần; đọc giờ đúng trên mặt đồng hồ. - Về hình học : đoạn thẳng, điểm, hình vuông, hình tròn, hình tam giác. - Giải toán cói lời văn. Kỹ năng - Hình thành và rèn luyện các kĩ năng thực hành: đọc, viết, đếm, so sánh các số trong phạm vi 100; cộng và trừ không nhớ trong phạm vi 100.
9 - Đo và ước lượng độ dài đoạn thẳng(với các số đo là tự nhiên trong phạm vi 20cm). - Nhận biết hình vuông, hình tam giác, hình tròn, đoạn thẳng, điểm; vẽ đoạn thẳng có độ dài đến 10cm. - Giải một số dạng bài toán đơn về cộng, trừ; bước đầu diễn đạt bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài thực hành. - Tập dượt so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa trong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh.
Thái độ, tình cảm - Giúp cho HS chăm chỉ, tự tin, cẩn thận, ham hiểu biết và hứng thú trong học tập môn Toán. - Phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lý, diễn đạt cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản. Nội dung môn toán lớp 1 1. Số học * Các số đến 10.
Phép công, phép trừ trong phạm vi 10 - Nhận biết quan hệ số lượng (nhiều hơn, ít hơn, bằng nhau) - Đọc, đếm, viết, so sánh các số đến 10. Sử dụng các dấu bằng (=), bé hơn (<), lớn hơn (>). - Bước đầu giới thiệu khái niệm về phép cộng. - Bước đầu giới thiệu khái niệm về phép trừ.
- Bảng cộng, bảng trừ trong phạm vi 10 - Số 0 trong phép cộng, phép trừ. - Mối quan hệ giữa phép cộng và phép trừ. - Tính giá trị biểu thức có đến 2 dấu phép cộng và phép trừ. Phép cộng, phép trừ (không nhớ) trong phạm vi 100.