CHƯƠNG I: CỞ SỞ KHOA HỌC 1.Tổng quan lịch sử nghiên cứu dạy học theo chủ đề Tổ chức dạy học theo chủ đề là xu thế dạy học hiện đại, nó đang được nghiên cứu và áp dụng vào trường học ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Trên thế giới Tư tưởng dạy học theo chủ đề bắt đầu từ thập niên 60 của thế kỷ XX, theo đó vào tháng 9 năm 1968, hội nghị dạy học theo chủ đề đã được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna (Bungari) với sự bảo trợ của UNESCO; Theo cuốn Esbjorn-Hargens, 2010 về lí thuyết chủ đề tích hợp được áp dụng hơn 35 lĩnh vực chuyên môn và học thuật khác nhau, lý thuyết này được ứng dụng vào giáo dục và trở thành một trào lưu về lí luận dạy học phổ biến trên thế giới hiện nay; Hội thảo quốc tế chào đón thế kỉ XXI có tên “kết nối hệ thống tri thức trong một thế giới học tập” với sự tham gia của gần 400 nhà giáo dục thuộc 18 quốc gia được tổ chức từ ngày 6-8/12/2000 tại Manila (Philippines) theo đó một trong những nội dung chính được thảo luận sôi nổi tại hội thảo này là con đường và cách thức kết nối hệ thống tri thức hướng vào người học trong thời đại mới, để đáp ứng nhu cầu đó đòi hỏi tư duy của người học phải là một mạch kiến thức liên tục, hệ thống, mạch lạc và phương pháp áp dụng tối ưu là tích hợp theo chủ đề dạy học. Nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Nhật bản, Australia. áp dụng tích hợp chủ đề dạy học vào trong các trường học.
Ở Australia nền giáo dục phổ thông xác định rõ “.Chương trình giáo dục tích hợp chủ đề dạy học là hệ thống giảng dạy tích hợp đa ngành, trong hệ thống đó tầm quan trọng của việc phát triển và ứng dụng kĩ thuật được chú trọng. Ở Việt Nam Dạy học theo chủ đề bắt đầu nghiên cứu và áp dụng từ những năm của thập kỷ 90 trở lại đây. Hiện nay Đảng và Nhà nước rất chú trọng đến vấn đề này thông qua nội dung thể hiện ở các văn kiện Nghị quyết như Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI; Nghị quyết 88 của Quốc hội và quyết định số 404 của Thủ tướng Chính phủ; Chỉ thị 16/CT-TTg ngày 4/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới phương pháp, cách thức dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho người học. Tại Nghệ An Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu giáo dục, giảng viên, giáo viên đóng góp cho kho tài liệu quý về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích hợp theo chủ đề.
Nghiên cứu 2 năm trở lại đây năm 2019, 6 skkn 2020 chúng tôi thu thập được một số đề tài nghiên cứu rất có giá trị liên quan đến chủ đề dạy học thuộc bộ môn sinh học THPT như sau: - Dạy học chủ đề bài “Tiêu hoá ở động vật” trong sinh học 11 theo định hướng hình thành và phát triển năng lực học sinh; Tác giả: Nguyễn Cảnh Hiếu; Trường THPT Tân Kỳ - SKKN năm 2019. - Tổ chức các hoạt động học tập chủ đề quần thể sinh vật- sinh học 12 nhằm phát triển năng lực của học sinh; Tác giả: Phạm Thị Kim Nhâm; Trường THPT Anh Sơn 2 – SKKN năm 2019. - Bồi dưỡng và phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT thông qua dạy học chủ đề “Sinh sản” - sinh học 11; Tác giả: Phạm Hồng Thái; Trường THPT Quỳnh Lưu 4– SKKN năm 2020. - Thiết kế các hoạt động để dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật (sinh học 11- cơ bản) nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.
Tác giả: Phạm Thị Giang; Trường THPT Nguyễn Xuân Ôn – SKKN năm 2020. - Kinh nghiệm dạy chủ đề dinh dưỡng khoáng ở thực vật sinh học 11 cơ bản; Tác giả: Nguyễn Thị Phương; Trường THPT Tương Dương 1 – SKKN năm 2020. - Ứng dụng đổi mới phương pháp dạy học theo chủ đề trong môn sinh học 11- THPT; Tác giả: Nguyễn Thị Lan; Trường THPT Cửa Lò 2 – SKKN năm 2020. - Dạy học chủ đề phân bào (sinh học tế bào- sinh học 10) theo định hướng phát triển năng lực của học sinh; Tác giả: Trần Thị Thu Hiền; Trường THPT Diễn Châu 2 – SKKN năm 2020.
Như vậy! Dạy học theo chủ đề là mô hình dạy học rất được toàn ngành Giáo dục quan tâm và từng bước hoàn thiện, phù hợp với mục tiêu giáo dục và xu thế phát triển của thời đại. Đây là yêu cầu mang tính đột phá của công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Dạy học theo chủ đề ở bậc THPT là việc “thổi hơi thở” của cuộc sống vào kiến thức cổ điển, nâng cao chất lượng “cuộc sống thật” trong các bài học. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan đến đề tài 1.
Năng lực Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như: hứng thú, niềm tin, ý chí. thực hiện thành công một loạt hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ thể [6,Tr5]. “Năng lực là khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài 7 skkn chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác” [9,Tr9].
Chương trình giáo dục phổ thông mới (2018) hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau: *Năng lực chung được hình thành và phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. *Năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất. Tài liệu OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) đưa ra 3 nhóm năng lực cốt lõi là: *Sử dụng có tính tương tác các phương tiện thông tin và công cụ, bao gồm: khả năng sử dụng và tương tác ngôn ngữ, kí hiệu và văn bản; khả năng sử dụng tương tác tri thức và thông tin; khả năng sử dụng các tương tác công nghệ. *Tương tác trong các nhóm không đồng nhất, bao gồm: khả năng duy trì các mối quan hệ tốt với người khác; khả năng hợp tác; khả năng giải quyết các xung đột.
*Khả năng hành động tự chủ, bao gồm: khả năng hành động trong các nhóm phức hợp; khả năng tổ chức và thực hiện các kế hoạch về cuộc sống và dự án cá nhân; khả năng nhận thức các quyền, lợi ích, giới hạn và nhu cầu cá nhân. Đây là những năng lực chung mà tất cả các môn học và hoạt động giáo dục đều cần và có thể hình thành, phát triển ở học sinh. Dựa vào bản chất của các nhóm năng lực này, chương trình GDPT mới của Việt Nam đã đặt lại tên và thay đổi vị trí sắp xếp các năng lực cho phù hợp với quan niệm truyền thống. EU (European Union) đưa ra 8 năng lực cốt lõi: giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ; giao tiếp bằng tiếng nước ngoài; năng lực toán học; năng lực kĩ thuật số; năng lực học tập; năng lực xã hội và công dân; sáng kiến và tinh thần kinh doanh; ý thức văn hoá và khả năng biểu đạt văn hoá.
Có thể thấy 3 năng lực chung và 7 năng lực chuyên môn mà chương trình GDPT mới năm 2018 của Việt Nam nêu ra cơ bản đúng với quan niệm cốt lõi của OECD và EU. Phẩm chất Trong tiếng việt, phẩm chất được hiểu là “cái làm nên giá trị của người hay vật”. Tâm lí học phân biệt phẩm chất tâm lí “ những đặc điểm thuộc tính tâm lí nói 8 skkn lên mặt đức của một nhân cách” với phẩm chất trí tuệ “những đặc điểm bảo đảm cho hoạt động nhận thức của một người đạt kết quả tốt bao gồm những phẩm chất của tri giác (óc quan sát), của trí nhớ (nhớ nhanh, chính xác. Như vậy, đặt trong sự đối sánh với năng lực, khái niệm phẩm chất nêu trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước về đổi mới theo chương trình giáo dục phổ thông mới có nghĩa là đạo đức.
Yêu cầu “ phát triển toàn diện về phẩm chất và năng lực” là sự tiếp nối truyền thống xây dựng con người toàn diện có cả đức và tài, vừa hồng vừa chuyên của dân tộc. Trong giáo dục cũng như trong đời sống, phẩm chất (đức) được đánh giá bằng hành vi, còn năng lực (tài) được đánh giá bằng hiệu quả của hành động. Trong chương trình GDPT 2018, phẩm chất của người học được hình thành và phát triển bằng hai con đường: *Thông qua kiến thức một số môn học.Ví dụ, tinh thần yêu nước có thể được hun đúc thông qua môn Lịch sử, Giáo dục công dân, Giáo dục quốc phòng an ninh. Hoạt động trải nghiệm thông qua các môn Địa lý, Sinh học.phần lớn các môn học này bồi dưỡng cho HS lòng nhân ái, khoan dung, ý thức tôn trọng các nền văn hoá, tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người, quy luật của tự nhiên.
*Thông qua phương pháp giáo dục.Ví dụ, tính chăm chỉ, thái độ trung thực và tinh thần trách nhiệm từng bước được hình thành và phát triển thông qua lao động học tập hàng ngày dưới sự hướng dẫn của các thầy, cô.Tinh thần yêu nước và lòng nhân ái chỉ có thể được hình thành thông qua các hoạt động thực tế.