Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng quan điểm dạy học hiện đại thiết kế bài học nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh THPT Miền núi Chương 2. Vận dụng quan điểm dạy học hiện đại thiết kế một số bài học chương “Khúc xạ ánh sáng” vật lý 11 nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh THPT Miền núi. Thực nghiệm sư phạm 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DẠY HỌC HIỆN ĐẠI THIẾT KẾ BÀI HỌC NHẮM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC CỦA HỌC SINH THPT MIỀN NÚI 1.
Tính tích cực, tự lực của học sinh 1. Tính tích cực của học sinh * Khái niệm về tính tích cực Theo từ điển tiếng Việt tích cực nghĩa là có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển. Người tích cực là người tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển. Ví dụ phương pháp học tập tích cực.
Theo nghĩa khác thì tích cực là đem hết khả năng và tâm trí vào việc làm. Ví dụ học tập tích cực. Tích cực là chủ động, hăng hái, nhiệt tình với nhiệm vụ được giao. Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội.
Để tồn tại và phát triển, con người luôn tìm tòi, khám phá ra các quy luật, định luật để phục vụ cho con người, giúp con người có thể làm việc hiệu quả, giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên, hay dự đoán trước được hiện trượng.Tuy vậy TTC có mặt tự phát và tự giác. Theo TSKH Thái Duy Tuyên mặt tự phát của TTC là những yếu tố tiềm ẩn bên trong, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kỳ, linh hoạt trong đời sống hàng ngày. Mặt tự giác của TTC là trạng thái tâm lý. TTC có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó.
TTC tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, tính tò mò trong khoa học… Nhờ TTC tự giác, có ý thức, con người có thể đạt được những tiến bộ trong đời sống và phát triển nhanh hơn so với tính tích cực tự phát. Vì vậy hình thành và phát triển TTC xã hội là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng. + Tích cực trong học tập Học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đi học. thông qua quá trình học tập, con người nhận thức được, lĩnh hội được những tri thức loài người đã tích luỹ được, đồng thời có thể nghiên cứu và tìm ra những tri thức mới cho khoa học.
5 TTC trong hoạt động học tập về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Trong hoạt động học tập, nó diễn ra ở nhiều phương diện khác nhau: tri giác tài liệu, thông hiểu tài liệu, ghi nhớ, luyện tập, vận dụng… và được thể hiện ở nhiều hình thức đa dạng phong phú. * Các hình thức biểu hiện - Xúc cảm học tập : Thể hiện ở niềm vui, sốt sắng thực hiện yêu cầu của giáo viên, hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra. Hay thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa rõ.
- Chú ý : Thể hiện ở việc tập trung chú ý học tập, lắng nghe theo dõi mọi hành động của giáo viên. - Sự nỗ lực của ý trí : Thể hiện ở sự kiên trì nhẫn lại, vượt khó khăn khi giải quyết nhiệm vụ nhận thức. Kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản lòng trước những tình huống khó khăn. Có quyết tâm, có ý trí vươn lên trong học tập.
- Hành vi : Hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập, hay giơ tay phát biểu ý kiến, bổ sung các câu trả lời của bạn, ghi chép cẩn thận đầy đủ, cử chỉ khẩn trưong khi thực hiện các hành động tư duy. - Kết quả lĩnh hội : Nhanh đúng, tái hiện được khi cần, chủ động vận dụng được kiến thức, kĩ năng khi gặp tình huống mới để nhận thức những vấn đề mới. Đặc biệt TTC học tập có mối liên hệ nhân quả với các phẩm chất nhân cách của người học như: - Tính tự giác: Đó là sự tự nhận thức được nhu cầu học tập của mình và thúc đẩy hoạt động học tập có kết quả. - Tính độc lập tư duy : Đó là sự tự phân tích, tìm hiểu, giải quyết các nhiệm vụ nhận thức.
Đây là biểu hiện cao của tính tích cực. - Tính chủ động: Thể hiện ở việc làm chủ các hành động trong toàn bộ hoặc trong từng giai đoạn của quá trình nhận thức như đặt ra nhiệm vụ, lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ đó, tự đọc thêm, làm thêm các bài tập… Lúc này TTC đóng vai trò như một tiền đề cần thiết để tiến hành các hoạt động học tập của người học. 6 - Tính sáng tạo: Thể hiện khi chủ thể nhận thức tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị phụ thuộc vào cái đã có.Đây là mức độ biểu hiện cao nhất của TTC. * Các cấp độ của tính tích cực Nói về TTC người ta thường đánh giá nó ở cấp độ cá nhân người học trong quá trình thực hiện mục đích dạy học chung.
Một cách khái quát I.Kharlamop viết : “TTC trong hoạt động nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh, được đặc trưng bởi khát vọng học tập, sự cố gắng trí tuệ, Với nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức cho chính mình”. + Các cấp độ của tính tích cực - Tính tích cực bắt trước tái hiện: Xuất hiện do tác động kích thích bên ngoài ( yêu cầu của giáo viên), nhằm chuyển đối tượng từ ngoài vào trong theo cơ chế “ hoạt động bên ngoài và bên trong có cùng cấu trúc”. Nhờ đó kinh nghiệm hoạt động được tích luỹ thông qua kinh nghiệm của người khác. Tái hiện và bắt chước là TTC ở mức độ thấp.
Có thể giáo viên thay đổi một chút dữ kiện là học sinh lúng túng không làm được. Nhưng nó lại là tiền đề cơ bản giúp các em nắm được nội dung bài giảng để có điều kiện nâng TTC lên mức cao hơn. - Tính tích cực tìm tòi: xuất hiện cùng với quá trình hình thành khái niệm, giải quyết các tình huống nhận thức, tìm tòi các phương thức hành động trên cơ sở có tính tự giác, có sự tham gia của động cơ, nhu cầu, hứng thú và ý trí của học sinh. Loại này xuất hiện không chỉ do yêu cầu của giáo viên mà còn hoàn toàn tự phát trong quá trình nhận thức.
Nó tồn tại không chỉ ở trạng thái, cảm xúc mà còn ở dạng thuộc tính bền vững của hoạt động. Ở mức độ này tính độc lập cao hơn mức trên, cho phép học sinh tiếp nhận nhiệm vụ và tự tìm cho mình phương tiện thực hiện. Ý thức tìm tòi giúp các em say mê đi tìm kiến thức mới, khai thác kiến thức đã học theo nhiều hướng khác nhau, kiểm tra lại những kiến thức đã học trước đó. Ý thức tìm tòi là phẩm chất của trí tuệ.
Đó là sự độc lập trong tư duy, tự mình phát hiện ra vấn đề, tự mình xác định phương hướng và tìm cách giải đáp, tự mình kiểm tra, thử lại đánh giá kết quả đạt được. Đây cũng là tiền đề cơ bản của tính tích cực sáng tạo. 7 - Tính tích cực sáng tạo: Thể hiện khi chủ thể nhận thức tự tìm tòi kiến thức mới, tự tìm ra phương thức hành động riêng và trở thành phẩm chất bền vững của cá nhân. Đây là mức độ biểu hiện tính tích cực cao nhất.
Học sinh có tính tích cực sáng tạo sẽ có thể tìm được các kiến thức mới không nhờ vào sự gợi ý của người khác, thực hiện tốt các yêu cầu do giáo viên đưa ra và có tính sáng tạo trong phương pháp. Ở mức này học sinh có khả năng tư duy phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, tương tự…để tìm tòi phát hiện kiến thức mới. * Các biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh có liên quan đến nhiều vấn đề, trong đó các yếu tố như động cơ, hứng thú học tập, năng lực, ý trí của cá nhân, không khí dạy học ….đóng vai trò rất quan trọng. Các yếu tố đó liên quan chặt chẽ với nhau và có ảnh hưởng tới việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong học tập.
Trong đó có nhiều yếu tố là kết quả của quá trình hình thành lâu dài và thường xuyên, không phải là kết quả của một giờ học mà là kết quả của cả một giai đoạn, là sự kết hợp của nhiều người, nhiều lĩnh vực và cả xã hội. Có thể đưa ra một số biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh như sau: + Phát huy tối đa hoạt động tư duy tích cực của HS + Tiến hành dạy học ở mức độ thích hợp với trình độ phát triển của học sinh. Nếu nội dung quá dễ để gây nhàm chán cho HS, không phát huy được mặt tích cực của học sinh, nếu nội dung quá khó cũng không phát huy được TTC và còn làm phản tác dụng. Vì vậy cần biết dẫn dắt HS luôn phát hiện thấy cái mới, nhu cầu cần thiết phải giành lấy.
+ Tạo không khí thuận lợi cho lớp học, làm cho HS thích được đến lớp, chờ đợi giờ học. Đồng thời tạo ra môi trường giao tiếp thuận lợi giữa GV và HS, Giữa HS và HS, chiếm được lòng tin yêu từ học sinh, có phương pháp tổ chức điều khiển lớp học hợp lý và gây được hứng thú học tập, tạo điều kiện học sinh phát huy hết khả năng của mình. 8 + Ứng dụng kiến thức vào thực tiễn, tạo niềm tin khoa học cho HS, kích thích óc sáng tạo của học sinh trong lớp học tập. Tuy nhiên để thực hiện được các biện pháp trên thì học sinh phải có những điều kiện: + Có phương tiện vật chất kĩ thuật tối thiểu cho học tập.
+ Có kiến thức, kĩ năng cơ bản, biết cách khắc phục khó khăn, niềm tin vào năng lực bản thân + Phải ý thức được nhiệm vụ, cũng như mục đích học tập của bản thân học sinh, tạo được hứng thú nhận thức cá nhân.