Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, Nghị quyết số 88/2014/QH13 và Quyết định số 404/QĐ-TTg đặt ra yêu cầu chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo và tự động hóa, yêu cầu hình thành nguồn nhân lực có năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ) và tư duy sáng tạo trở nên cấp thiết. Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/05/2017 của Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho ngành giáo dục thúc đẩy triển khai giáo dục khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) trong chương trình giáo dục phổ thông.

Tại Việt Nam, việc dạy học phát triển năng lực GQVĐ còn gặp nhiều rào cản do sự chênh lệch điều kiện giữa các vùng miền, cơ sở vật chất thí nghiệm còn thiếu thốn và giáo viên chưa thành thạo các phương pháp dạy học tích cực. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước cho thấy đã có đề tài nghiên cứu phát triển năng lực GQVĐ môn Vật lí, điển hình như nghiên cứu của tác giả Dương Đức Giáp ở nội dung Từ trường và Cảm ứng điện từ (Vật lí 11), nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể nào về việc thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề STEM “Mô hình ròng rọc Pa lăng” thuộc chương trình Vật lí 10. Do đó, tác giả Phan Nguyễn Thảo My đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Sư phạm Vật lí tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng nhằm giải quyết khoảng trống này.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là tổ chức thành công dạy học chủ đề STEM “Mô hình ròng rọc Pa lăng” – Vật lí 10 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh.

Để đạt được mục tiêu trên, tác giả xác định 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học STEM và năng lực giải quyết vấn đề.
  2. Tìm hiểu thực trạng về việc tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông (THPT) hiện nay.
  3. Thiết kế chủ đề STEM “Chế tạo mô hình ròng rọc Pa lăng” trong dạy học Vật lí 10.
  4. Xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học theo chủ đề đã thiết kế.
  5. Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi, hiệu quả của chủ đề.
  6. Phân tích, sử dụng thống kê toán học để xử lí số liệu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lí luận về dạy học STEM, hoạt động tổ chức dạy học STEM trong trường THPT; hoạt động dạy và học STEM chủ đề “Mô hình ròng rọc Pa lăng” cho học sinh lớp 10.
  • Phạm vi nội dung kiến thức: Chương trình sách giáo khoa Kết nối tri thức với cuộc sống – Vật lí 10, bao gồm Chương III (Động lực học: Bài 13 “Tổng hợp và phân tích lực. Cân bằng lực”, Bài 17 “Trọng lực và lực căng”, Bài 21 “Moment lực. Cân bằng của vật rắn”) và Chương IV (Năng lượng, Công, Công suất: Bài 23 “Năng lượng. Công cơ học”).
  • Phạm vi không gian và thời gian: Khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm trên học sinh, giáo viên các trường THPT tại thành phố Đà Nẵng trong tháng 3 năm 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng từ các quan điểm tiếp cận về năng lực và giáo dục STEM:

  • Khái niệm năng lực và năng lực giải quyết vấn đề: Khóa luận tiếp cận định nghĩa năng lực theo hướng tổng hợp từ Đặng Thành Hưng, OECD và Chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) 2018; đồng thời tiếp cận định nghĩa năng lực GQVĐ của OECD (PISA 2012), Bộ GD&ĐT, và quan điểm của Trần Thị Ngọc Ánh – Nguyễn Thị Kim Huệ.
  • Cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề trong môn Vật lí: Tác giả áp dụng mô hình cấu trúc của Trần Ngọc Thắng và Nguyễn Thị Nhị gồm 4 thành tố và 12 biểu hiện hành vi: (1) Phân tích vấn đề / Phát hiện vấn đề (3 biểu hiện); (2) Đưa ra giải pháp / Đề xuất giải pháp (3 biểu hiện); (3) Thực hiện giải pháp (3 biểu hiện); (4) Đánh giá giải pháp, vận dụng (3 biểu hiện). Bộ tiêu chí đánh giá được lượng hóa theo 3 mức độ (M1: Chưa đạt, M2: Đạt yêu cầu, M3: Tốt).
  • Cơ sở lí luận về giáo dục STEM: Vận dụng tài liệu tập huấn của Bộ GD&ĐT, quan điểm của PGS.TS Lê Huy Hoàng và GS.TSKH Đỗ Đức Thái; bộ tiêu chí nhận diện gồm 6 tiêu chuẩn và quy trình 7 bước xây dựng chủ đề STEM trong môn Vật lí của Phạm Thị Phú và Lê Thịnh; quy trình 6 bước thiết kế chủ đề phát triển năng lực GQVĐ của nhóm tác giả TS. Nguyễn Thanh Nga; quy trình tổ chức dạy học STEM 5 hoạt động theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT; kết hợp các phương pháp dạy học dự án (8 bước), dạy học dựa trên vấn đề (PBL), dạy học dựa trên thiết kế (DBL) và mô hình 5E của Bybee.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ GD&ĐT, các tài liệu lí luận dạy học và công trình nghiên cứu liên quan.
  • Phương pháp điều tra khảo sát: Thiết kế phiếu khảo sát trực tuyến qua Google Form, thu thập dữ liệu từ $N = 45$ giáo viên môn Vật lí công tác tại 16 trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (THPT Phan Châu Trinh, Võ Chí Công, Thái Phiên, Trần Phú, Hòa Vang, Thanh Khê, FPT Đà Nẵng, Tôn Thất Tùng, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Cẩm Lệ, Ngô Quyền, Nguyễn Hiền, Phan Thành Tài, Ông Ích Khiêm, Hoàng Hoa Thám).
  • Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Thiết kế bản vẽ, lựa chọn vật liệu đơn giản, tái chế để chế tạo mô hình ròng rọc Pa lăng và tiến hành dạy học thực nghiệm sư phạm trên lớp 10 theo mô hình 4 nhóm học sinh.
  • Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm thống kê để xử lý, phân tích số liệu điều tra thực trạng và đánh giá định lượng kết quả thực nghiệm sư phạm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học STEM nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lí luận về năng lực, năng lực GQVĐ, giáo dục STEM và vai trò của dạy học STEM trong môn Vật lí ở trường THPT. Tác giả đã cụ thể hóa khung đánh giá năng lực GQVĐ thành bảng tiêu chí 3 mức độ (M1, M2, M3) tương ứng 12 biểu hiện hành vi làm công cụ đo lường trong dạy học Vật lí.

Bên cạnh phần lý luận, chương này trình bày kết quả điều tra thực trạng trên 45 giáo viên Vật lí THPT tại Đà Nẵng:

  • Đặc điểm mẫu khảo sát: 46,8% giáo viên có kinh nghiệm từ 5–10 năm; 73,3% có trình độ Cử nhân; đa số đang giảng dạy khối 10 và 11.
  • Khó khăn trong thực hiện Chương trình GDPT 2018: 97,8% (44/45 GV) gặp khó khăn về thay đổi phương thức đánh giá phẩm chất và năng lực; 73,3% gặp khó khăn về phương pháp giảng dạy và hỗ trợ học sinh tiếp cận kiến thức.
  • Khó khăn của học sinh theo góc nhìn giáo viên: 88,4% nhận định học sinh chưa tích cực tham gia hoạt động và có sự không đồng đều về trình độ trong lớp.
  • Thực trạng sử dụng năng lực GQVĐ: 22 GV thường xuyên và 23 GV thỉnh thoảng sử dụng năng lực GQVĐ để đánh giá học sinh; 66,7% GV thỉnh thoảng hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức vào thực tiễn; các kỹ năng được chú trọng rèn luyện nhiều nhất là thu thập/làm rõ thông tin và lựa chọn giải pháp phù hợp nhất (86,7%), xác định tình huống có vấn đề và đề xuất phương án (84,4%).
  • Khó khăn khi phát triển năng lực: 91,1% GV gặp khó khăn khi đánh giá sự tham gia của từng cá nhân; 91,1% phản ánh cơ sở vật chất, trang thiết bị còn hạn chế; 66,7% (30/45 GV) cho rằng trình độ học sinh còn hạn chế.
  • Thực trạng triển khai giáo dục STEM: 80,0% GV chưa từng áp dụng STEM vào dạy học, chỉ 20,0% (9/45 GV) từng triển khai (trong đó 4,0% dạy trên 2 lần). Trong số các GV đã triển khai STEM, 88,9% (8/9 GV) phản ánh khó khăn do cơ sở vật chất chưa đảm bảo và khó khăn khi xây dựng/thiết kế chủ đề; 77,8% gặp trở ngại về dạy học tích hợp liên môn và kiểm tra đánh giá; tuy nhiên 88,9% (8/9 GV) đồng thuận rằng dạy học STEM giúp học sinh phát triển năng lực, phẩm chất tốt hơn các tiết dạy thông thường.
Chỉ số khảo sát thực trạng giáo viên ($N = 45$) Tỷ lệ (%) Số lượng GV
GV gặp khó khăn về đổi mới phương thức đánh giá phẩm chất, năng lực 97,8% 44/45
GV nhận thấy cơ sở vật chất, thiết bị dạy học còn hạn chế 91,1% 41/45
GV gặp khó khăn khi đánh giá sự tham gia của từng cá nhân 91,1% 41/45
GV đánh giá học sinh chưa tích cực tham gia hoạt động học tập 88,4% 39/45
GV đánh giá trình độ học sinh trong lớp không đồng đều 88,4% 39/45
GV chưa từng áp dụng giáo dục STEM vào giảng dạy 80,0% 36/45
GV từng áp dụng giáo dục STEM vào giảng dạy 20,0% 9/45
GV dạy STEM đồng ý STEM giúp phát triển năng lực tốt hơn tiết học thông thường 88,9% 8/9

Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy học chủ đề STEM “Mô hình ròng rọc Pa lăng” nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh

Chương 2 tập trung phân tích chương trình và thiết kế kế hoạch bài dạy chi tiết:

  • Phân tích nội dung: Phân tích cấu trúc chương IV “Năng lượng. Công suất” (gồm 5 bài: Bài 23 Năng lượng - Công cơ học, Bài 24 Công suất, Bài 25 Động năng - Thế năng, Bài 26 Cơ năng và định luật bảo toàn cơ năng, Bài 27 Hiệu suất; thời lượng 10 tiết) và các bài liên quan thuộc Chương III “Động lực học” (Bài 13, 17, 21) trong SGK Vật lí 10 Kết nối tri thức với cuộc sống nhằm xác định kiến thức nền và yêu cầu cần đạt.
  • Thiết kế tiến trình dạy học: Xây dựng chủ đề STEM “Chế tạo mô hình ròng rọc Pa lăng” theo quy trình 5 hoạt động của Bộ GD&ĐT:
    • Hoạt động 1: Xác định vấn đề (giao nhiệm vụ chế tạo mô hình ròng rọc Pa lăng từ vật liệu đơn giản/tái chế, xác định các tiêu chí kỹ thuật).
    • Hoạt động 2: Nghiên cứu kiến thức nền và đề xuất giải pháp (nghiên cứu kiến thức công cơ học, lực căng, moment lực, quy tắc cân bằng; phác thảo bản vẽ).
    • Hoạt động 3: Lựa chọn giải pháp (báo cáo, bảo vệ bản thiết kế mô hình, phản biện và hoàn thiện phương án khả thi).
    • Hoạt động 4: Chế tạo mẫu, thử nghiệm và đánh giá (tiến hành gia công, lắp ráp mô hình ròng rọc Pa lăng, thử nghiệm nâng tải trọng và tinh chỉnh).
    • Hoạt động 5: Chia sẻ, thảo luận và điều chỉnh (trưng bày sản phẩm, thuyết trình nguyên lý hoạt động, đánh giá sản phẩm và rút kinh nghiệm).
  • Xây dựng bộ công cụ đánh giá: Khóa luận thiết lập hệ thống tiêu chí và phiếu đánh giá đồng bộ gồm: Phiếu đánh giá bản thiết kế mô hình; Phiếu đánh giá sản phẩm mô hình ròng rọc Pa lăng; Phiếu đánh giá phần trình bày/thuyết trình; Phiếu tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng về quá trình thực hiện dự án của học sinh theo từng nhóm; Bảng kiểm mức độ đạt được của 4 thành tố năng lực GQVĐ.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày việc triển khai thực nghiệm sư phạm tại trường THPT ở Đà Nẵng:

  • Mục đích và kế hoạch: Tổ chức dạy học thực nghiệm chủ đề đã thiết kế nhằm kiểm chứng tính khả thi của tiến trình dạy học và đánh giá mức độ phát triển năng lực GQVĐ của học sinh lớp 10. Lớp thực nghiệm được chia thành 4 nhóm học sinh thực hiện toàn bộ các pha của dự án.
  • Đánh giá định tính: Quan sát tinh thần học tập, mức độ hứng thú, kỹ năng hợp tác nhóm, tính chủ động tìm kiếm vật liệu tái chế và khả năng giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình thiết kế, lắp ráp mô hình.
  • Đánh giá định lượng: Tổng hợp và xử lý số liệu điểm đánh giá từ nhiều phía: điểm bản thiết kế (giáo viên đánh giá), điểm chất lượng sản phẩm mô hình (giáo viên đánh giá), điểm thuyết trình/trình bày (giáo viên đánh giá), kết quả đánh giá quá trình làm việc của học sinh Nhóm 1, Nhóm 2, Nhóm 3, Nhóm 4 (tự đánh giá và đánh giá chéo đồng đẳng), và điểm tổng kết các mức độ (M1, M2, M3) theo 4 thành tố năng lực GQVĐ thông qua các công cụ thống kê toán học.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính của khóa luận:

  • Cung cấp dữ liệu định lượng cụ thể về thực trạng dạy học phát triển năng lực và giáo dục STEM của 45 giáo viên Vật lí tại 16 trường THPT trên địa bàn TP. Đà Nẵng; chỉ ra rào cản lớn nhất là phương thức đánh giá (97,8%), cơ sở vật chất (91,1%) và việc chỉ có 20% giáo viên từng triển khai dạy học STEM.
  • Xây dựng thành công bản thiết kế tiến trình dạy học chủ đề STEM “Mô hình ròng rọc Pa lăng” gồm 5 pha hoạt động gắn chặt với yêu cầu cần đạt của bài “Năng lượng. Công cơ học” và mạch kiến thức Động lực học trong SGK Vật lí 10 (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống).
  • Xây dựng bộ công cụ đo lường năng lực GQVĐ trong môn Vật lí hoàn chỉnh, bao gồm bảng tiêu chí 4 thành tố (12 biểu hiện hành vi, thang 3 mức độ) và 4 nhóm phiếu đánh giá (bản thiết kế, sản phẩm, thuyết trình, quá trình làm việc nhóm).
  • Thực nghiệm sư phạm thành công trên 4 nhóm học sinh lớp 10, minh chứng tính khả thi của việc chế tạo mô hình ròng rọc Pa lăng từ vật liệu dễ kiếm, tái chế và hiệu quả phát triển các kỹ năng phân tích vấn đề, đề xuất giải pháp, thực hiện và đánh giá giải pháp của học sinh.

Giải pháp và đóng góp của đề tài:

  • Đề xuất quy trình tích hợp giáo dục STEM vào môn Vật lí 10 theo định hướng phát triển năng lực GQVĐ, giải quyết được khó khăn thiếu thốn thiết bị thí nghiệm bằng cách sử dụng học liệu đơn giản, tái chế.
  • Khóa luận đóng góp một mô hình bài dạy cụ thể, hoàn chỉnh cho chủ đề “Mô hình ròng rọc Pa lăng” – mảng nội dung chưa được nghiên cứu chi tiết trong các công trình nghiên cứu về phát triển năng lực GQVĐ môn Vật lí trước đây (vốn tập trung vào chương trình lớp 11).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát thực trạng giới hạn ở $N = 45$ giáo viên thuộc địa bàn các trường THPT tại thành phố Đà Nẵng, chưa đại diện cho các vùng miền khác có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hơn (như khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hoặc vùng sâu, vùng xa).
  • Địa bàn thực nghiệm sư phạm mới chỉ triển khai trên đối tượng học sinh lớp 10 tại một trường THPT ở Đà Nẵng trong khung thời gian hẹp (tháng 3 năm 2024) với quy mô 4 nhóm học sinh, chưa tiến hành đối chứng mở rộng trên nhiều lớp học hay nhiều trường khác nhau.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng quy mô thực nghiệm sư phạm trên nhiều đối tượng học sinh ở các trường THPT khác nhau, so sánh hiệu quả giữa các nhóm thực nghiệm và đối chứng trên mẫu số liệu lớn hơn.
  • Tiếp tục thiết kế và hoàn thiện các chủ đề STEM khác cho toàn bộ các chương của chương trình Vật lí 10, 11, 12 theo Chương trình GDPT 2018 nhằm tạo thành hệ thống học liệu dạy học phát triển năng lực toàn diện.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho:

  • Giáo viên Vật lí cấp THPT: Trực tiếp sử dụng tiến trình 5 pha hoạt động dạy học chủ đề STEM “Mô hình ròng rọc Pa lăng” để giảng dạy nội dung Công cơ học và Năng lượng; áp dụng hệ thống phiếu đánh giá (đánh giá bản thiết kế, sản phẩm, quá trình làm việc nhóm) vào công tác kiểm tra, đánh giá định kỳ và thường xuyên theo Chương trình GDPT 2018.
  • Sinh viên ngành Sư phạm Vật lí, Sư phạm Khoa học tự nhiên và học viên cao học chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật lí: Tham khảo phương pháp xây dựng bộ tiêu chí đo lường năng lực GQVĐ (4 thành tố, 12 biểu hiện, 3 mức độ), phương pháp điều tra thực trạng bằng Google Form và quy trình thiết kế bài dạy STEM theo quy chuẩn của Bộ GD&ĐT.

Câu hỏi thường gặp

1. Căn cứ pháp lý và văn bản chỉ đạo chính nào được tác giả sử dụng làm nền tảng triển khai giáo dục STEM trong khóa luận? Khóa luận căn cứ vào Nghị quyết số 29-NQ/TW, Nghị quyết số 88/2014/QH13, Quyết định số 404/QĐ-TTg về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/05/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0, Chương trình GDPT 2018 và tài liệu Tập huấn cán bộ quản lý, giáo viên về xây dựng chủ đề giáo dục STEM trong giáo dục trung học do Bộ GD&ĐT ban hành.

2. Cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề trong môn Vật lí được tác giả sử dụng gồm những thành tố nào? Theo khung lí thuyết của Trần Ngọc Thắng và Nguyễn Thị Nhị được tác giả vận dụng, cấu trúc năng lực GQVĐ gồm 4 thành tố với 12 biểu hiện hành vi: (1) Phân tích vấn đề / Phát hiện vấn đề (3 biểu hiện); (2) Đưa ra giải pháp / Đề xuất giải pháp (3 biểu hiện); (3) Thực hiện giải pháp (3 biểu hiện); (4) Đánh giá giải pháp, vận dụng (3 biểu hiện), được đánh giá qua 3 mức độ M1 (Chưa đạt), M2 (Đạt yêu cầu), M3 (Tốt).

3. Khảo sát thực trạng 45 giáo viên Vật lí tại Đà Nẵng chỉ ra tỷ lệ giáo viên từng dạy STEM và khó khăn lớn nhất là gì? Khảo sát chỉ ra 80,0% giáo viên chưa từng áp dụng STEM vào dạy học, chỉ 20,0% từng triển khai. Khó khăn lớn nhất khi dạy học phát triển năng lực là thay đổi phương thức đánh giá (97,8%), thiếu cơ sở vật chất (91,1%) và khó đánh giá sự tham gia của từng cá nhân (91,1%). Đối với việc dạy STEM, 88,9% giáo viên gặp khó khăn do cơ sở vật chất chưa đảm bảo và khó thiết kế chủ đề, dù 88,9% khẳng định STEM giúp phát triển năng lực tốt hơn tiết dạy thông thường.

4. Nội dung chủ đề STEM “Mô hình ròng rọc Pa lăng” tích hợp những kiến thức nào trong sách giáo khoa Vật lí 10 Kết nối tri thức? Chủ đề tích hợp kiến thức trọng tâm từ Bài 23 “Năng lượng. Công cơ học” thuộc Chương IV (Năng lượng, Công, Công suất) kết hợp với các kiến thức nền tảng về lực ở Chương III (Động lực học) gồm Bài 13 “Tổng hợp và phân tích lực. Cân bằng lực”, Bài 17 “Trọng lực và lực căng” và Bài 21 “Moment lực. Cân bằng của vật rắn”.

5. Tiến trình dạy học chủ đề STEM trong khóa luận được tổ chức qua mấy hoạt động? Tiến trình được xây dựng theo quy trình 5 hoạt động chuẩn của Bộ GD&ĐT: Hoạt động 1 (Xác định vấn đề), Hoạt động 2 (Nghiên cứu kiến thức nền và đề xuất giải pháp), Hoạt động 3 (Lựa chọn giải pháp), Hoạt động 4 (Chế tạo mẫu, thử nghiệm và đánh giá), Hoạt động 5 (Chia sẻ, thảo luận và điều chỉnh).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Nguyễn Thảo My đã hệ thống hóa cơ sở lí luận và làm rõ thực trạng dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề cùng việc triển khai giáo dục STEM môn Vật lí tại các trường THPT trên địa bàn TP. Đà Nẵng. Trên cơ sở đó, tác giả đã thiết kế hoàn chỉnh tiến trình dạy học 5 hoạt động cho chủ đề STEM “Mô hình ròng rọc Pa lăng” – Vật lí 10 và xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề gồm 4 thành tố, 12 biểu hiện hành vi. Kết quả thực nghiệm sư phạm trên các nhóm học sinh lớp 10 đã khẳng định tính khả thi của mô hình chế tạo từ vật liệu tái chế và hiệu quả của chủ đề trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề của người học theo định hướng Chương trình GDPT 2018.