Luận văn thạc sĩ ussh sự thích ứng với hoạt động giảng dạy theo dào tạo tín chỉ của giảng viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn đại học quốc gia hà nội

Luận văn thạc sĩ USSH phân tích sự thích ứng của giảng viên với hoạt động giảng dạy theo đào tạo tín chỉ tại Đại học Quốc gia Hà Nội.

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2010

163
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề thích ứng. Nghiên cứu thích ứng ở nước ngoài

1.2. Nghiên cứu thích ứng ở trong nước

1.3. Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.3.1. Khái niệm thích ứng và thích ứng với hoạt động giảng dạy theo đào tạo tín chỉ của giảng viên

1.3.2. Khái niệm hoạt động giảng dạy trong đào tạo theo tín chỉ

1.3.3. Các biểu hiện của giảng viên thích ứng với hoạt động giảng dạy trong đào tạo theo tín chỉ

1.3.4. Những thuận lợi và khó khăn trong việc chuyển đổi sang đào tạo theo tín chỉ ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện nay

1.4. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.4.1. Tổ chức nghiên cứu

1.4.2. Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận

1.4.3. Giai đoạn 2: Giai đoạn khảo sát thử

1.4.4. Giai đoạn 3: Khảo sát chính thức

1.4.5. Phương pháp nghiên cứu

1.4.5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
1.4.5.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
1.4.5.3. Phương pháp phỏng vấn
1.4.5.4. Phương pháp quan sát
1.4.5.5. Phương pháp chuyên gia
1.4.5.6. Phương pháp thống kê toán học

1.4.6. Quy ước đánh giá mức độ thích ứng và các biểu hiện của sự thích ứng

2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY THEO ĐÀO TẠO TÍN CHỈ CỦA GIẢNG VIÊN

2.1. Thực trạng thích ứng với hoạt động giảng dạy theo đào tạo tín chỉ của giảng viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

2.2. Thích ứng với việc biên soạn đề cương môn học theo đào tạo tín chỉ

2.3. Thích ứng với việc tổ chức dạy học theo đào tạo tín chỉ

2.4. Thích ứng với việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo đào tạo tín chỉ

2.5. Sự hài lòng của giảng viên với hoạt động giảng dạy theo đào tạo tín chỉ

2.6. Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thích ứng của giảng viên

2.6.1. Yếu tố chủ quan

2.6.2. Yếu tố khách quan

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Thích Ứng Hoạt Động Giảng Dạy Tín Chỉ

Hoạt động giảng dạy theo hình thức tín chỉ đang trở thành xu hướng phổ biến tại các trường đại học, đặc biệt là tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Việc chuyển đổi từ phương pháp giảng dạy truyền thống sang đào tạo tín chỉ không chỉ yêu cầu giảng viên thay đổi phương pháp giảng dạy mà còn cần thích ứng với những yêu cầu mới trong việc biên soạn đề cương môn học, tổ chức dạy học và đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Sự thích ứng này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy mà còn đến sự hài lòng của giảng viên và sinh viên.

1.1. Khái Niệm Thích Ứng Trong Giảng Dạy Tín Chỉ

Thích ứng trong giảng dạy tín chỉ được hiểu là khả năng của giảng viên trong việc điều chỉnh phương pháp giảng dạy, nội dung học tập và cách thức đánh giá để phù hợp với yêu cầu của chương trình đào tạo tín chỉ. Điều này bao gồm việc nắm bắt các kỹ năng giảng dạy hiện đại và áp dụng chúng vào thực tiễn giảng dạy.

1.2. Lợi Ích Của Việc Thích Ứng Trong Giảng Dạy

Việc thích ứng với hoạt động giảng dạy tín chỉ mang lại nhiều lợi ích cho giảng viên và sinh viên. Giảng viên có thể nâng cao chất lượng giảng dạy, tạo ra môi trường học tập tích cực hơn cho sinh viên. Sinh viên cũng sẽ được hưởng lợi từ phương pháp giảng dạy linh hoạt, giúp họ phát triển kỹ năng tự học và tư duy phản biện.

II. Những Thách Thức Trong Việc Thích Ứng Hoạt Động Giảng Dạy Tín Chỉ

Mặc dù việc chuyển đổi sang đào tạo tín chỉ mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng không thiếu những thách thức mà giảng viên phải đối mặt. Những thách thức này có thể đến từ việc thiếu hụt tài liệu, cơ sở vật chất không đáp ứng yêu cầu, hoặc sự kháng cự từ một số giảng viên không quen với phương pháp giảng dạy mới.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Biên Soạn Đề Cương Môn Học

Một trong những thách thức lớn nhất là việc biên soạn đề cương môn học phù hợp với chương trình đào tạo tín chỉ. Giảng viên cần phải có kiến thức vững vàng về nội dung môn học và khả năng thiết kế chương trình học sao cho phù hợp với yêu cầu của tín chỉ.

2.2. Sự Kháng Cự Từ Giảng Viên

Nhiều giảng viên có thể cảm thấy khó khăn trong việc thay đổi thói quen giảng dạy truyền thống. Sự kháng cự này có thể xuất phát từ việc thiếu tự tin vào khả năng thích ứng với phương pháp giảng dạy mới hoặc từ việc không quen với công nghệ giảng dạy hiện đại.

III. Phương Pháp Giải Quyết Vấn Đề Thích Ứng Trong Giảng Dạy Tín Chỉ

Để giải quyết những thách thức trong việc thích ứng với hoạt động giảng dạy tín chỉ, cần có những phương pháp cụ thể và hiệu quả. Việc đào tạo và bồi dưỡng giảng viên là rất cần thiết để họ có thể nắm bắt và áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại.

3.1. Đào Tạo Giảng Viên Về Phương Pháp Giảng Dạy Hiện Đại

Đào tạo giảng viên về các phương pháp giảng dạy hiện đại là một trong những giải pháp quan trọng. Các khóa đào tạo này nên bao gồm các kỹ năng như thiết kế bài giảng, sử dụng công nghệ trong giảng dạy và phương pháp đánh giá sinh viên.

3.2. Tăng Cường Cơ Sở Vật Chất Và Tài Liệu Học Tập

Cần đầu tư vào cơ sở vật chất và tài liệu học tập để hỗ trợ giảng viên trong quá trình giảng dạy. Việc cung cấp đầy đủ tài liệu và thiết bị sẽ giúp giảng viên tự tin hơn trong việc áp dụng các phương pháp giảng dạy mới.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Việc Thích Ứng Trong Giảng Dạy Tín Chỉ

Việc thích ứng với hoạt động giảng dạy tín chỉ không chỉ là lý thuyết mà còn có những ứng dụng thực tiễn rõ ràng. Nhiều giảng viên đã áp dụng thành công các phương pháp giảng dạy mới, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy và sự hài lòng của sinh viên.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Sự Thích Ứng Của Giảng Viên

Nghiên cứu cho thấy rằng phần lớn giảng viên tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã thích ứng tốt với yêu cầu biên soạn đề cương môn học và tổ chức dạy học theo tín chỉ. Điều này cho thấy sự nỗ lực và cam kết của giảng viên trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy.

4.2. Sự Hài Lòng Của Sinh Viên Đối Với Hoạt Động Giảng Dạy

Sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động giảng dạy theo tín chỉ cũng đã được cải thiện. Sinh viên cảm thấy thoải mái hơn với phương pháp giảng dạy linh hoạt và có cơ hội tham gia tích cực vào quá trình học tập.

V. Kết Luận Về Thích Ứng Hoạt Động Giảng Dạy Tín Chỉ

Việc thích ứng với hoạt động giảng dạy tín chỉ là một quá trình cần thiết và quan trọng đối với giảng viên tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Những nỗ lực trong việc đào tạo và bồi dưỡng giảng viên sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và đáp ứng nhu cầu của xã hội.

5.1. Tương Lai Của Hoạt Động Giảng Dạy Tín Chỉ

Tương lai của hoạt động giảng dạy tín chỉ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng của giảng viên và sự hỗ trợ từ nhà trường. Cần tiếp tục cải tiến và đổi mới phương pháp giảng dạy để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của giáo dục đại học.

5.2. Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy

Đề xuất các giải pháp như tăng cường đào tạo giảng viên, cải thiện cơ sở vật chất và khuyến khích giảng viên áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại sẽ giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy tín chỉ tại trường.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh sự thích ứng với hoạt động giảng dạy theo dào tạo tín chỉ của giảng viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn đại học quốc gia hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề thích ứng. Nghiên cứu thích ứng ở nước ngoài Vấn đề nghiên cứu thích ứng được các nhà khoa học quan tâm đến ở hai phương diện: Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về thích ứng; Thứ hai, nghiên cứu trên bình diện thực tiễn. Cho đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.

Những nghiên cứu về thích ứng của các nhà Tâm lý học cho thấy quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Nếu như các nhà sinh vật học tập trung nghiên cứu đến sự thích nghi của cơ thể với môi trường sống (các đặc điểm sinh lý có thích nghi được với các điều kiện về môi trường khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng….) thì các nhà tâm lý học cũng dựa trên nền tảng đó để nghiên cứu một nhân cách cụ thể (sự hình thành và phát triển của nhân cách ấy có phù hợp hay là đáp ứng được với các chuẩn mực, yêu cầu của xã hội hay không). Từ cuối thế kỷ XIX, nhiều tác giả ở nhiều trường phái khác nhau nghiên cứu về vấn đề này. Phân tâm học nghiên cứu vấn đề thích ứng.

Người sáng lập ra phân tâm học là Sigmund Freud. Những nghiên cứu về thích ứng của nhân cách được S. Freud đưa ra trong quan điểm của mình về cấu trúc và sự phát triển của nhân cách. Freud thì cấu trúc của nhân cách gồm “cái nó” (bản năng vô thức), “cái tôi” và “cái siêu tôi”.

Khi phân tích các thành phần của cấu trúc nhân cách theo Freud thì “cái nó” tương đương với khái niệm trước của Freud về cái vô thức (mặc dù “cái tôi” và “cái siêu tôi” cũng có những khía cạnh vô thức). “Cái nó” là một bể chứa những bản năng và libido (năng lượng huyền bí thể hiện bởi những bản năng). “Cái nó” là một phần cấu trúc mạnh của nhân cách vì nó cung cấp tất cả năng lượng cho hai hợp phần còn lại [1;81]. Như vậy, với quan điểm xem nhân 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách là một cái trọn vẹn, các thành phần cấu trúc mang ý nghĩa chức năng vận động thực hiện cuộc sống của chủ thể, lý luận nhân cách của S.

Freud được xây dựng trên cơ sở hai tiêu đề. Thứ nhất: Mọi hành vi của con người được điều khiển bởi bản năng tình dục (libido) và bản năng sâm khích. Thứ hai: ý thức chỉ tham gia rất ít vào điều chỉnh hành vi, chủ yếu là tư duy, tưởng tượng. Thành phần “cái nó” ở dạng cái bản năng, là hình thức căn bản của hành vi.

Trên cơ sở học thuyết về bản năng, S. Freud đề ra lý thuyết phát triển nhân cách theo các giai đoạn: Giai đoạn môi miệng - Hậu môn – Dương vật – Phát triển cá tính – Phát dục. Từ việc phân tích các giai đoạn phát triển của nhân cách thì vấn đề thích ứng của nhân cách cũng được giải quyết trên cơ sở đó. Freud tập trung giải thích tính thích ứng của nhân cách và chất lượng của thích ứng phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển, mà nội dung của nó là bản năng tình dục được thoả mãn như thế nào? thuận tiện hay bị ngăn trở.

Nếu như quá trình thoả mãn gặp khó khăn, có mẫu thuẫn thì dẫn đến hệ quả là “cái tôi” bị chèn ép, yếu đuối, không phát triển bình thường. Ngược lại, nhân cách sẽ có hành vi thích ứng tốt nếu như ở các giai đoạn phát triển thơ ấu nó nhận được sự hài hoà giữa khả năng thoả mãn và sự cấm đoán. Tóm lại, theo phân tâm học, người được coi có hành vi thích ứng là người có khả năng chế ngự được các “xung lực bản năng” trồi lên đòi thoả mãn, là người có “cái tôi” đủ mạnh giải quyết được xung khắc giữa “cái nó” và “cái siêu tôi” một cách thông minh, hợp lý. Phân tâm học đã có những đóng góp to lớn trong việc đưa ra cấu trúc nhân cách và sự thích ứng của nhân cách.

Chúng ta có thể nhìn thấy những yếu tố hợp lý trong cách đặt vấn để và giải quyết vấn đề “thích ứng” của Freud. Đó là quan điểm lý giải sự thích ứng của nhân cách trong quan hệ với những hiện tượng thực tiễn diễn ra trong cơ thể. Việc ông nêu lên vai trò của 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “vô thức” trong việc điều chỉnh hành vi, vai trò và cơ chế điều chỉnh của “cái tôi’, sự có mặt của “cái siêu tôi” là những vấn đề của tâm lý học nhân cách lúc bấy giờ. Những “cơ chế bảo vệ tâm lý” của “cái tôi” có nhiều áp dụng trong tâm bệnh học.

Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của S.Freud là ông đã đề cao cái vô thức, nhìn nhận dưới góc độ sinh vật luận, làm mờ nhạt đi ý thức mang tính xã hội của bản chất con người. Freud đã giải thích một cách duy tâm bản chất nhân cách, không khám phá được những cơ chế quan trọng nhất về quá trình thích ứng của nhân cách trong quá trình phát triển của nó. Sau này, một số tác giả trong trường phái phân tâm học mới đã kế tục sự nghiệp nghiên cứu của ông, họ đã tiếp thu những quan điểm tiến bộ và cũng đưa ra phê phán đối với những hạn chế của S. Tiêu biểu là Carl Jung, Alfred Adler, Karen Horney, Erich Fromm và Erik Erikson.

Tuy mỗi người có một cách đi riêng, song họ cũng đề cập bằng cách này hay cách khác hai tiền đề lý luận về thích ứng của S. Trước hết những nhà phân tâm học mới không đồng ý với S. Freud dành cho “cái nó” nhiều quyền lực như thế. Họ cho rằng trong quá trình thích ứng thì vai trò “cái tôi” lớn hơn nhiều.

Bởi vì “cái tôi” trong khi thực hiện vai trò của mình nó phải tiến hành: quan sát, tri giác hoàn cảnh, phải suy nghĩ tìm ra lời giải trong các tình huống, phải ra mục đích hành động, phải sáng tạo, phải ghi nhớ… Bởi vậy vai trò của nó trong hành vi thích ứng phải ngang bằng với vai trò của “cái nó” chứ chưa muốn nói cao hơn. Điều đặc biệt là các nhà phân tâm học mới chú ý hơn đến vai trò của yếu tố xã hội trong việc quy định hành vi thích ứng của nhân cách, tức là chú ý đến các quan hệ xã hội mà nhân cách gia nhập vào. Quyết định luận sinh vật của hành vi thích ứng ở S. Freud biểu hiện rất rõ trong học thuyết của ông về phát triển “tình dục ấu thơ”, với lý luận “cố định phát triển (Fixation)” của nhân cách ở một giai đoạn phát triển tình dục ấu thơ của lúc còn bé.

Các nhà phân tâm học mới xem tính quy định đó chỉ là một yếu tố trong toàn bộ tính quy định phát triển của con người có tính xã hội. Cái quyết 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định chủ yếu thuộc về yếu tố xã hội. Một số nhà phân tâm học mới còn đi xa hơn, đã xem sự thích ứng của nhân cách như là cái mang nội dung xã hội, tức là xem khả năng thích ứng thể hiện ở việc con người thiết lập được quan hệ tình cảm, gắn bó với những người khác. Những quan điểm này được hai tác giả là Erich Fromm và Erik Erikson quan tâm và bàn đến rất chi tiết trong lý thuyết của các ông.

Tâm lý học hành vi (J. Watson) nghiên cứu vấn đề thích ứng. Tâm lý học hành vi ra đời, người đại diện là J. Theo quan điểm của Watson thì khi nghiên cứu đời sống tâm lý của con người không thể lý giải bằng các khái niệm ý thức chung chung được mà phải lấy những hành vi quan sát được, đo đạc được, quan sát được, dự đoán được làm đối tượng nghiên cứu.

Vấn đề thích ứng được lý giải như thế nào dưới quan điểm của Tâm lý học hành vi? Tâm lý học hành vi cho rằng mọi hành vi ứng xử của con người được hình thành thông qua quá trình học tập và tập nhiễm, là quá trình các cá nhân học được những hành vi mới cho phép nó giải quyết những nhu cầu đòi hỏi của cuộc sống. Vậy nhân cách có thích nghi được hay không phụ thuộc vào việc học được hay không học được những hành vi mới để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống. Người nào thích nghi tốt là người hình thành cho mình nhiều hành vi mới để giải quyết các vấn đề xung quanh, ngược lại, những người kém thích nghi là những người không học được những hành vi mới đó. Bên cạnh đó, tâm lý học hành vi cũng bàn đến yếu tố kinh nghiệm của cá nhân trước đó cộng với yếu tố thưởng, phạt trong việc hình thành hành vi mới.

Tâm lý học hành vi cổ điển xây dựng lý thuyết về thích ứng của nhân cách dựa trên những thành tựu của ngành tâm lý học động vật mà các tác giả tiêu biểu là Thorndike, Pavlov…). Tâm lý học hành vi đã thoát ra khỏi quan 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm duy tâm, những lại coi con người như một cái máy bị cơ khí hoá, phản ứng các sự kiện theo cách đã định trước, tâm lý người là hàng loạt các phản ứng hành vi bên ngoài. Để khắc phục những hạn chế này, thuyết hành vi mới ra đời, các tác giả tiêu biểu như Albert Bandura, Julian Rotter…Với những khái niệm mới như: “hành vi tạo tác”, “hành vi học tập xã hội”, “hành vi học tập theo quan sát” trong các tư tưởng của các nhà hành vi mới, sự thích ứng còn là kết quả của hành vi được củng cố bằng sự tự thưởng, tự phạt ở bên trong mỗi con người. Theo Bandura hành vi có thể được tập nhiễm thông qua việc thưởng gián tiếp từ quan sát hành vi của người khác và biết trước những giải thưởng cho nếu bản thân có những hành vi giống như vậy [17].

Ở đây, Bandura đã đưa nhắc đến quá trình chú ý, gợi nhớ, tái tạo và khuyến khích/động viên. Tức là có nói đến cái tôi là tổng hợp những quá trình ý thức với suy nghĩ và nhận thức. Vậy lý giải cho hành vi thích ứng của cá nhân sẽ đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn. Một ưu điểm nữa là nó khắc phục cách nhìn thụ động đối với hành vi thích ứng trong quan niệm của thuyết hành vi cổ điển, khẳng định tích cực của hành động.

Con người tiến hành hành động phù hợp với ý nghĩa của kích thích và bởi vậy nó điều chỉnh hành vi bằng cách điều chỉnh ngay ý nghĩ bên trong của nó. Tâm lý học nhân văn nghiên cứu vấn đề thích ứng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thích Ứng Hoạt Động Giảng Dạy Tín Chỉ Tại Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn" khám phá những phương pháp và chiến lược giảng dạy tín chỉ hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và sự hài lòng của sinh viên. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thích ứng với nhu cầu học tập đa dạng của sinh viên, từ đó tạo ra môi trường học tập tích cực và khuyến khích sự tham gia của sinh viên trong quá trình học.

Để mở rộng kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của giảng viên, bạn có thể tham khảo tài liệu Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của giảng viên trường đại học công nghệ miền đông, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về động lực làm việc trong môi trường giáo dục. Ngoài ra, tài liệu Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của giảng viên trường cao đẳng kinh tế tài chính thái nguyên cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự hài lòng trong công việc của giảng viên, một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy. Cuối cùng, tài liệu Sự hài lòng trong công việc của giảng viên tại các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố hà nội sẽ cung cấp thêm thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của giảng viên, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực này.

Mỗi tài liệu đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của giảng dạy và động lực làm việc trong giáo dục.