Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề thích ứng. Nghiên cứu thích ứng ở nước ngoài Vấn đề nghiên cứu thích ứng được các nhà khoa học quan tâm đến ở hai phương diện: Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về thích ứng; Thứ hai, nghiên cứu trên bình diện thực tiễn. Cho đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Những nghiên cứu về thích ứng của các nhà Tâm lý học cho thấy quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Nếu như các nhà sinh vật học tập trung nghiên cứu đến sự thích nghi của cơ thể với môi trường sống (các đặc điểm sinh lý có thích nghi được với các điều kiện về môi trường khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng….) thì các nhà tâm lý học cũng dựa trên nền tảng đó để nghiên cứu một nhân cách cụ thể (sự hình thành và phát triển của nhân cách ấy có phù hợp hay là đáp ứng được với các chuẩn mực, yêu cầu của xã hội hay không). Từ cuối thế kỷ XIX, nhiều tác giả ở nhiều trường phái khác nhau nghiên cứu về vấn đề này. Phân tâm học nghiên cứu vấn đề thích ứng.
Người sáng lập ra phân tâm học là Sigmund Freud. Những nghiên cứu về thích ứng của nhân cách được S. Freud đưa ra trong quan điểm của mình về cấu trúc và sự phát triển của nhân cách. Freud thì cấu trúc của nhân cách gồm “cái nó” (bản năng vô thức), “cái tôi” và “cái siêu tôi”.
Khi phân tích các thành phần của cấu trúc nhân cách theo Freud thì “cái nó” tương đương với khái niệm trước của Freud về cái vô thức (mặc dù “cái tôi” và “cái siêu tôi” cũng có những khía cạnh vô thức). “Cái nó” là một bể chứa những bản năng và libido (năng lượng huyền bí thể hiện bởi những bản năng). “Cái nó” là một phần cấu trúc mạnh của nhân cách vì nó cung cấp tất cả năng lượng cho hai hợp phần còn lại [1;81]. Như vậy, với quan điểm xem nhân 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách là một cái trọn vẹn, các thành phần cấu trúc mang ý nghĩa chức năng vận động thực hiện cuộc sống của chủ thể, lý luận nhân cách của S.
Freud được xây dựng trên cơ sở hai tiêu đề. Thứ nhất: Mọi hành vi của con người được điều khiển bởi bản năng tình dục (libido) và bản năng sâm khích. Thứ hai: ý thức chỉ tham gia rất ít vào điều chỉnh hành vi, chủ yếu là tư duy, tưởng tượng. Thành phần “cái nó” ở dạng cái bản năng, là hình thức căn bản của hành vi.
Trên cơ sở học thuyết về bản năng, S. Freud đề ra lý thuyết phát triển nhân cách theo các giai đoạn: Giai đoạn môi miệng - Hậu môn – Dương vật – Phát triển cá tính – Phát dục. Từ việc phân tích các giai đoạn phát triển của nhân cách thì vấn đề thích ứng của nhân cách cũng được giải quyết trên cơ sở đó. Freud tập trung giải thích tính thích ứng của nhân cách và chất lượng của thích ứng phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển, mà nội dung của nó là bản năng tình dục được thoả mãn như thế nào? thuận tiện hay bị ngăn trở.
Nếu như quá trình thoả mãn gặp khó khăn, có mẫu thuẫn thì dẫn đến hệ quả là “cái tôi” bị chèn ép, yếu đuối, không phát triển bình thường. Ngược lại, nhân cách sẽ có hành vi thích ứng tốt nếu như ở các giai đoạn phát triển thơ ấu nó nhận được sự hài hoà giữa khả năng thoả mãn và sự cấm đoán. Tóm lại, theo phân tâm học, người được coi có hành vi thích ứng là người có khả năng chế ngự được các “xung lực bản năng” trồi lên đòi thoả mãn, là người có “cái tôi” đủ mạnh giải quyết được xung khắc giữa “cái nó” và “cái siêu tôi” một cách thông minh, hợp lý. Phân tâm học đã có những đóng góp to lớn trong việc đưa ra cấu trúc nhân cách và sự thích ứng của nhân cách.
Chúng ta có thể nhìn thấy những yếu tố hợp lý trong cách đặt vấn để và giải quyết vấn đề “thích ứng” của Freud. Đó là quan điểm lý giải sự thích ứng của nhân cách trong quan hệ với những hiện tượng thực tiễn diễn ra trong cơ thể. Việc ông nêu lên vai trò của 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “vô thức” trong việc điều chỉnh hành vi, vai trò và cơ chế điều chỉnh của “cái tôi’, sự có mặt của “cái siêu tôi” là những vấn đề của tâm lý học nhân cách lúc bấy giờ. Những “cơ chế bảo vệ tâm lý” của “cái tôi” có nhiều áp dụng trong tâm bệnh học.
Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của S.Freud là ông đã đề cao cái vô thức, nhìn nhận dưới góc độ sinh vật luận, làm mờ nhạt đi ý thức mang tính xã hội của bản chất con người. Freud đã giải thích một cách duy tâm bản chất nhân cách, không khám phá được những cơ chế quan trọng nhất về quá trình thích ứng của nhân cách trong quá trình phát triển của nó. Sau này, một số tác giả trong trường phái phân tâm học mới đã kế tục sự nghiệp nghiên cứu của ông, họ đã tiếp thu những quan điểm tiến bộ và cũng đưa ra phê phán đối với những hạn chế của S. Tiêu biểu là Carl Jung, Alfred Adler, Karen Horney, Erich Fromm và Erik Erikson.
Tuy mỗi người có một cách đi riêng, song họ cũng đề cập bằng cách này hay cách khác hai tiền đề lý luận về thích ứng của S. Trước hết những nhà phân tâm học mới không đồng ý với S. Freud dành cho “cái nó” nhiều quyền lực như thế. Họ cho rằng trong quá trình thích ứng thì vai trò “cái tôi” lớn hơn nhiều.
Bởi vì “cái tôi” trong khi thực hiện vai trò của mình nó phải tiến hành: quan sát, tri giác hoàn cảnh, phải suy nghĩ tìm ra lời giải trong các tình huống, phải ra mục đích hành động, phải sáng tạo, phải ghi nhớ… Bởi vậy vai trò của nó trong hành vi thích ứng phải ngang bằng với vai trò của “cái nó” chứ chưa muốn nói cao hơn. Điều đặc biệt là các nhà phân tâm học mới chú ý hơn đến vai trò của yếu tố xã hội trong việc quy định hành vi thích ứng của nhân cách, tức là chú ý đến các quan hệ xã hội mà nhân cách gia nhập vào. Quyết định luận sinh vật của hành vi thích ứng ở S. Freud biểu hiện rất rõ trong học thuyết của ông về phát triển “tình dục ấu thơ”, với lý luận “cố định phát triển (Fixation)” của nhân cách ở một giai đoạn phát triển tình dục ấu thơ của lúc còn bé.
Các nhà phân tâm học mới xem tính quy định đó chỉ là một yếu tố trong toàn bộ tính quy định phát triển của con người có tính xã hội. Cái quyết 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định chủ yếu thuộc về yếu tố xã hội. Một số nhà phân tâm học mới còn đi xa hơn, đã xem sự thích ứng của nhân cách như là cái mang nội dung xã hội, tức là xem khả năng thích ứng thể hiện ở việc con người thiết lập được quan hệ tình cảm, gắn bó với những người khác. Những quan điểm này được hai tác giả là Erich Fromm và Erik Erikson quan tâm và bàn đến rất chi tiết trong lý thuyết của các ông.
Tâm lý học hành vi (J. Watson) nghiên cứu vấn đề thích ứng. Tâm lý học hành vi ra đời, người đại diện là J. Theo quan điểm của Watson thì khi nghiên cứu đời sống tâm lý của con người không thể lý giải bằng các khái niệm ý thức chung chung được mà phải lấy những hành vi quan sát được, đo đạc được, quan sát được, dự đoán được làm đối tượng nghiên cứu.
Vấn đề thích ứng được lý giải như thế nào dưới quan điểm của Tâm lý học hành vi? Tâm lý học hành vi cho rằng mọi hành vi ứng xử của con người được hình thành thông qua quá trình học tập và tập nhiễm, là quá trình các cá nhân học được những hành vi mới cho phép nó giải quyết những nhu cầu đòi hỏi của cuộc sống. Vậy nhân cách có thích nghi được hay không phụ thuộc vào việc học được hay không học được những hành vi mới để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống. Người nào thích nghi tốt là người hình thành cho mình nhiều hành vi mới để giải quyết các vấn đề xung quanh, ngược lại, những người kém thích nghi là những người không học được những hành vi mới đó. Bên cạnh đó, tâm lý học hành vi cũng bàn đến yếu tố kinh nghiệm của cá nhân trước đó cộng với yếu tố thưởng, phạt trong việc hình thành hành vi mới.
Tâm lý học hành vi cổ điển xây dựng lý thuyết về thích ứng của nhân cách dựa trên những thành tựu của ngành tâm lý học động vật mà các tác giả tiêu biểu là Thorndike, Pavlov…). Tâm lý học hành vi đã thoát ra khỏi quan 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm duy tâm, những lại coi con người như một cái máy bị cơ khí hoá, phản ứng các sự kiện theo cách đã định trước, tâm lý người là hàng loạt các phản ứng hành vi bên ngoài. Để khắc phục những hạn chế này, thuyết hành vi mới ra đời, các tác giả tiêu biểu như Albert Bandura, Julian Rotter…Với những khái niệm mới như: “hành vi tạo tác”, “hành vi học tập xã hội”, “hành vi học tập theo quan sát” trong các tư tưởng của các nhà hành vi mới, sự thích ứng còn là kết quả của hành vi được củng cố bằng sự tự thưởng, tự phạt ở bên trong mỗi con người. Theo Bandura hành vi có thể được tập nhiễm thông qua việc thưởng gián tiếp từ quan sát hành vi của người khác và biết trước những giải thưởng cho nếu bản thân có những hành vi giống như vậy [17].
Ở đây, Bandura đã đưa nhắc đến quá trình chú ý, gợi nhớ, tái tạo và khuyến khích/động viên. Tức là có nói đến cái tôi là tổng hợp những quá trình ý thức với suy nghĩ và nhận thức. Vậy lý giải cho hành vi thích ứng của cá nhân sẽ đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn. Một ưu điểm nữa là nó khắc phục cách nhìn thụ động đối với hành vi thích ứng trong quan niệm của thuyết hành vi cổ điển, khẳng định tích cực của hành động.
Con người tiến hành hành động phù hợp với ý nghĩa của kích thích và bởi vậy nó điều chỉnh hành vi bằng cách điều chỉnh ngay ý nghĩ bên trong của nó. Tâm lý học nhân văn nghiên cứu vấn đề thích ứng.