Xây dựng thí nghiệm con lắc đơn - Khóa luận Sư phạm Vật lý ĐH Giáo dục

Khóa luận tốt nghiệp ngành Sư phạm Vật lý về xây dựng thí nghiệm con lắc đơn, khảo sát dao động và ước lượng gia tốc trọng trường bằng phương pháp đo chu kỳ.

Chuyên ngành

Sư phạm Vật lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách thí nghiệm con lắc đơn để ước lượng gia tốc trọng trường

Thí nghiệm con lắc đơn là một phương pháp kinh điển trong vật lý thực nghiệm, giúp ước lượng gia tốc trọng trường một cách trực quan và hiệu quả. Dựa trên nguyên lý dao động điều hòa, con lắc đơn cho phép xác định giá trị g thông qua chu kỳ dao động và chiều dài dây treo. Theo tài liệu khóa luận tốt nghiệp của Đặng Đoàn Quỳnh Ngân (Đại học Giáo dục – ĐHQG Hà Nội, 2018), thí nghiệm này không chỉ củng cố kiến thức lý thuyết mà còn phát triển kỹ năng thực hành cho học sinh. Trong điều kiện lý tưởng – bỏ qua lực cản không khí, ma sát tại điểm treo, và dao động với góc nhỏ – chu kỳ T của con lắc đơn được tính bằng công thức: T = 2π√(l/g), trong đó l là chiều dài dây, ggia tốc trọng trường. Từ đó, g có thể được suy ra: g = 4π²l/T². Phương pháp này đơn giản, chi phí thấp, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất tại nhiều trường phổ thông, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, để đạt độ chính xác cao, cần kiểm soát chặt chẽ các yếu tố gây sai số hệ thốngsai số ngẫu nhiên.

1.1. Nguyên lý vật lý của con lắc đơn và công thức xác định g

Con lắc đơn gồm một vật nhỏ khối lượng m treo vào sợi dây không dãn, chiều dài l, điểm treo cố định. Khi dao động với góc lệch nhỏ (θ < 10°), chuyển động xem như dao động điều hòa. Phương trình vi phân mô tả chuyển động là d²θ/dt² + (g/l)θ = 0. Từ đó suy ra chu kỳ T = 2π√(l/g). Đây là cơ sở lý thuyết để ước lượng gia tốc trọng trường thông qua đo Tl. Công thức này chỉ đúng khi bỏ qua ma sát và lực cản, điều kiện thường được giả định trong các thí nghiệm học đường.

1.2. Vai trò của thí nghiệm con lắc đơn trong giáo dục vật lý

Thí nghiệm con lắc đơn không chỉ minh họa định luật dao động mà còn giúp học sinh hiểu bản chất khoa học thực nghiệm. Theo khóa luận của Ngân (2018), việc thiếu thiết bị và thời gian chuẩn bị khiến học sinh mất hứng thú. Tuy nhiên, khi được hướng dẫn đúng cách, thí nghiệm này trở thành công cụ hiệu quả để rèn luyện kỹ năng đo lường, xử lý số liệu, và phân tích sai số – những năng lực cốt lõi trong giáo dục STEM.

II. Những thách thức khi đo gia tốc trọng trường bằng con lắc đơn

Mặc dù phương pháp thí nghiệm con lắc đơn đơn giản, nhưng ước lượng gia tốc trọng trường chính xác đòi hỏi kiểm soát nhiều yếu tố gây sai số. Các thách thức chính bao gồm: sai số do đo chiều dài dây, sai số thời gian do phản xạ người, ảnh hưởng của góc lệch lớn, và lực cản không khí. Trong thực tế, học sinh thường đo T bằng đồng hồ bấm tay, dẫn đến sai số ngẫu nhiên lên tới 0,2–0,5 giây. Ngoài ra, nếu góc lệch ban đầu vượt quá 10°, công thức T = 2π√(l/g) không còn chính xác do phi tuyến tính của phương trình chuyển động. Tài liệu của Đặng Đoàn Quỳnh Ngân (2018) chỉ ra rằng, tại nhiều trường phổ thông, thiết bị thí nghiệm thiếu đồng bộ khiến học sinh khó lặp lại kết quả. Điều này làm giảm tính tin cậy khoa họchứng thú học tập. Để khắc phục, cần sử dụng cổng quang học hoặc cảm biến số để đo chu kỳ dao động chính xác hơn.

2.1. Các nguồn sai số phổ biến trong thí nghiệm con lắc đơn

Sai số hệ thống thường đến từ chiều dài dây không chính xác (do không tính đến bán kính quả nặng) hoặc góc lệch quá lớn. Sai số ngẫu nhiên chủ yếu do phản xạ người khi bấm đồng hồ. Theo nghiên cứu, sai số thời gian có thể giảm đáng kể nếu đo nhiều chu kỳ liên tiếp (ví dụ 10T) rồi chia trung bình. Ngoài ra, nhiệt độđộ ẩm cũng ảnh hưởng nhẹ đến g, nhưng thường được bỏ qua ở cấp phổ thông.

2.2. Hạn chế thiết bị và điều kiện thực hành ở trường phổ thông

Tại nhiều trường vùng sâu, vùng xa, phòng thí nghiệm vật lý thiếu thiết bị cơ bản. Học sinh không được tiếp cận cổng quang, máy đo thời gian số, dẫn đến kết quả không đáng tin cậy. Khóa luận của Ngân (2018) nhấn mạnh rằng việc thiếu hướng dẫn trước thí nghiệm khiến học sinh lúng túng, mất thời gian thao tác, giảm hiệu quả học tập. Đây là rào cản lớn trong đổi mới giáo dục STEM hiện nay.

III. Phương pháp đo chu kỳ dao động chính xác bằng cổng quang học

Để tăng độ chính xác trong thí nghiệm con lắc đơn, phương pháp đo chu kỳ bằng cổng quang học được khuyến nghị. Thiết bị này ghi nhận thời điểm quả nặng đi qua vị trí cân bằng, tự động tính chu kỳ dao động mà không phụ thuộc vào phản xạ người. Theo khóa luận của Đặng Đoàn Quỳnh Ngân (2018), khi so sánh giữa đồng hồ bấm tayhệ thống cổng quang, sai số giảm từ ~2% xuống dưới 0,5%. Cổng quang kết nối với máy đếm thời gian số, cho phép đo nhiều chu kỳ liên tiếp và tính trung bình tự động. Phương pháp này phù hợp với phòng thí nghiệm hiện đại, nhưng cần đầu tư ban đầu. Tuy nhiên, ngay cả với thiết bị đơn giản, nếu áp dụng kỹ thuật đo 10T, kết quả vẫn cải thiện đáng kể. Việc lựa chọn phương pháp đo phù hợp là bí quyết để ước lượng gia tốc trọng trường chính xác trong điều kiện thực tế.

3.1. Ưu điểm của hệ thống cổng quang trong đo chu kỳ

Cổng quang học loại bỏ sai số do con người, cung cấp dữ liệu lặp lại và khách quan. Mỗi lần quả nặng cắt tia hồng ngoại, hệ thống ghi nhận một nửa chu kỳ. Sau 10 lần cắt, máy tính toán 5 chu kỳ đầy đủ. Độ phân giải thời gian thường đạt 0,001 giây, vượt trội so với đồng hồ bấm tay (~0,2 giây). Đây là giải pháp lý tưởng cho nghiên cứu định lượng ở trường phổ thông.

3.2. So sánh kết quả giữa hai phương pháp đo thời gian

Trong thí nghiệm của Ngân (2018), khi dùng đồng hồ bấm tay, giá trị g thu được dao động từ 9,4 – 10,1 m/s². Với cổng quang, kết quả ổn định quanh 9,78 – 9,82 m/s², gần với giá trị lý thuyết tại Hà Nội (~9,79 m/s²). Sự khác biệt này chứng minh rõ tác động của sai số đo thời gian đến độ chính xác của g.

IV. Hướng dẫn xử lý số liệu và ước lượng gia tốc trọng trường

Sau khi thu thập dữ liệu chiều dài lchu kỳ T, bước tiếp theo là xử lý số liệu để ước lượng gia tốc trọng trường. Phương pháp phổ biến nhất là vẽ đồ thị T² theo l. Theo lý thuyết, T² = (4π²/g)·l, nên đồ thị là đường thẳng qua gốc tọa độ, hệ số góc k = 4π²/g. Từ đó, g = 4π²/k. Cách này giúp giảm sai số ngẫu nhiên nhờ trung bình hóa nhiều điểm đo. Ngoài ra, có thể dùng phương pháp bình phương tối thiểu để tìm hệ số góc chính xác. Trong khóa luận của Ngân (2018), học sinh được hướng dẫn lập bảng số liệu, vẽ đồ thị trên giấy kẻ ô hoặc phần mềm Excel, rồi tính g từ độ dốc. Kết quả cho thấy phương pháp đồ thị cho độ tin cậy cao hơn so với tính g từ từng cặp (l, T) riêng lẻ. Đây là kỹ năng quan trọng trong phân tích dữ liệu thực nghiệm.

4.1. Phương pháp đồ thị T² l để xác định g

Đồ thị T² phụ thuộc vào l là công cụ trực quan và hiệu quả. Mỗi điểm (l, T²) được vẽ, sau đó vẽ đường thẳng tốt nhất. Hệ số góc k = ΔT²/Δl. Từ đó, g = 4π²/k. Phương pháp này loại bỏ sai số đơn lẻ, cho kết quả ổn định và khách quan. Đây là tiêu chuẩn trong báo cáo thí nghiệm vật lý.

4.2. Tính toán sai số và độ tin cậy của kết quả

Sai số tương đối của g được tính bằng Δg/g = Δl/l + 2ΔT/T. Nếu ΔT = 0,02 sT = 2 s, sai số thời gian đóng góp 2%. Việc đo 10 chu kỳ giúp giảm ΔT xuống còn 0,002 s, nâng độ chính xác lên rõ rệt. Học sinh cần ghi rõ sai số dụng cụsai số ngẫu nhiên trong báo cáo.

V. Ứng dụng thực tiễn của thí nghiệm con lắc đơn trong giảng dạy

Thí nghiệm con lắc đơn không chỉ dùng để ước lượng gia tốc trọng trường, mà còn là nền tảng cho nhiều ứng dụng thực tiễn trong giáo dục vật lý. Nó giúp học sinh hiểu dao động điều hòa, năng lượng cơ học, và phân tích sai số – những khái niệm cốt lõi trong chương trình Vật lý phổ thông mới. Ngoài ra, con lắc đơn còn được dùng để minh họa hiện tượng cộng hưởng, đồng hồ quả lắc, và đo gia tốc địa phương. Tại các trường có điều kiện, giáo viên có thể mở rộng thành dự án STEM: so sánh g ở các độ cao khác nhau, hoặc tích hợp Arduino để tự động hóa đo đạc. Theo Đặng Đoàn Quỳnh Ngân (2018), khi học sinh tự thiết kế thí nghiệm, mức độ hứng thú và tư duy phản biện tăng rõ rệt. Điều này khẳng định vai trò của thí nghiệm thực hành trong đổi mới phương pháp dạy học.

5.1. Tích hợp thí nghiệm con lắc vào chương trình STEM

Giáo viên có thể thiết kế dự án nhỏ: đo g tại sân trường, so sánh với giá trị lý thuyết, phân tích nguyên nhân chênh lệch. Hoặc dùng cảm biến gia tốc kết hợp phần mềm xử lý để mở rộng sang vật lý kỹ thuật số. Đây là cách hiệu quả để kết nối lý thuyết – thực tiễn.

5.2. Vai trò trong đổi mới sách giáo khoa Vật lý phổ thông

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 nhấn mạnh hoạt động trải nghiệmnăng lực thực nghiệm. Thí nghiệm con lắc đơn là ví dụ tiêu biểu cho hoạt động học qua làm, giúp học sinh tự khám phá kiến thức, thay vì tiếp thu thụ động. Điều này phù hợp với triết lý giáo dục hiện đại.

VI. Kết luận và hướng phát triển thí nghiệm con lắc đơn

Thí nghiệm con lắc đơn là phương pháp đơn giản, hiệu quả để ước lượng gia tốc trọng trường, đồng thời rèn luyện kỹ năng khoa học cho học sinh. Tuy nhiên, để đạt độ chính xác cao, cần kiểm soát sai số, lựa chọn phương pháp đo phù hợp, và xử lý số liệu đúng cách. Trong tương lai, việc số hóa thí nghiệm – sử dụng cảm biến, phần mềm, và AI – sẽ giúp nâng cao chất lượng dạy học. Các trường nên đầu tư bộ thí nghiệm chuẩn, kết hợp hướng dẫn trực tuyến, để học sinh chuẩn bị trước ở nhà. Như khóa luận của Đặng Đoàn Quỳnh Ngân (2018) đề xuất, cần phát triển tài liệu hướng dẫn chi tiết, kèm video minh họa, nhằm phổ cập thí nghiệm ngay cả ở vùng khó khăn. Đây là bước đi thiết yếu để hiện đại hóa giáo dục vật lý tại Việt Nam.

6.1. Đề xuất cải tiến thiết bị và phương pháp dạy học

Nên phát triển bộ thí nghiệm con lắc đơn giá rẻ, tích hợp cổng quang miniứng dụng điện thoại để đo thời gian. Đồng thời, xây dựng ngân hàng video hướng dẫn để học sinh tự học trước. Điều này giúp tối ưu thời gian thực hành trên lớp.

6.2. Tầm quan trọng của thí nghiệm trong khoa học vật lý

Vật lý là khoa học thực nghiệm – không thể tách rời lý thuyết và thực hành. Thí nghiệm con lắc đơn, dù đơn giản, vẫn là biểu tượng cho tinh thần khoa học: quan sát, đo đạc, phân tích, và kết luận. Duy trì và phát triển các hoạt động này là nhiệm vụ cốt lõi của giáo dục vật lý.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn xây dựng thí nghiệm khảo sát dao động của con lắc đơn và ước lượng gia tốc trọng trường

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan, trình bảy những vẫn dễ chung về thực hảnh, thí nghiệm về dao động của con lắc đơn, những nghiên cửu liên quan cũng như xé AeA Ân đâng củ ý cơ sở lý thuyết về chuyên động của con lắc hằng số. Đây là phương trình vi phân tuyến tính cấp hai thuần nhất, hệ số không dễi, có các nghiệm tủy thuộc vào diễu kiện ban dầu, trong diều kiện đao đông tắt dẫn, biên độ dao đông giảm din theo thời gian. Việc hiệu chỉnh để có được chính xáo các tham số ảnh hưởng đến kế quả phép đo như chiều dài đây, khối lượng vật nặng. Nelson [9] xử lý bằng các phần tích toán học phức tạp nhưng hiệu quả.

Ngoài ra, trong thực tế thí nghiệm, quá trình đao động diễn ra trong không gian ba chiéu, bai loan sẽ phức tạp hơn rất nhiễu. 'Luy nhiên, những nội dung đó không phải là đối tượng nghiên cứu kỹ của khóa luận này. Nghiên cứu trong khóa luận này sẽ khảo sát chỉ tiết hơn về các sự phụ thuộc của ghu kỳ vào góc lệch ban đầu, độ lin cậy của đo chủ kỳ bằng phương pháp thủ công và cách ước lượng gia tốc với điều kiện thực tế là khó xác định được trọng tâm g của con lắc. Từ đó đưa ra phương pháp phù hợp nhất, tối ưu nhất với điều kiện thí nghiệm ở trường nhổ thông.

Chuyễn động của con lắc đơn không ma sát Con lắc đơn (toán học, lý tưởng) là hệ các vật bao gồm một vật nặng có khối lượng m treo tai một đầu dây có chiễu dải l. đầu kia của sợi dây được buộc cố định vào một điểm. Điều kiện lý tưởng là: khếi lượng của sợi dây rất nhỏ có thể bỏ qua, kích thước của vật nhỏ hơn nhiều sơ với chiều dai cha day treo. Cá hệ treo trên một giá đỡ gắn cô định so với mặt đât, các lực ma sát, lực cản của con lắc với dây Ireo và với môi trường không khí được bỏ qua.

Khi kéo vật ra khỏi vi trí cân bằng, vật có xu hướng chuyển đông về vị trí cân bằng, qua vị trí đó, vật chuyển động theo quán tính, sau khi đạt đến độ cao cực dại vật chuyển động thco hưởng ngược lại và quá trình dược lặp di lặp lại †ạo thành một đao động quanh vị trí cân bằng.1 Con lie don Phương trình dao động của con lắc có thể được thiết lập qua định luật II Newton, hoặc qua định luật bảo toàn năng lượng. Trong trường hợp áp dụng định luật II Newton, hoặc theo phương trình năng lương [I0] được áp dụng phổ biến trơng cáo tải liệu hướng dẫn thực hành cúa các hãng sản xuất thiết bị [4.6] Năng lượng của con lắc gồm động năng và thế năng được bảo Loản, tức là ;'l3J +mgl(I—eosg)— lí, Trong đó I là momen quán tính 7=, Ea là năng lượng toản phần, bằng chính thể năng cực đại ở hai điểm đảo ngược chiều chuyển động (khi ¢-a 1a góc lệch ban đầu), hay là động năng cực đại khi con lắc ở vị trí cân bằng. Thế năng cực đại Hạ được tính theo công thức E, =mg](—cosa) 'Tử đó ta có phương trình t{se} +mgi(—oos6) = mgÍ(— cos 2) 6 hằng số. Đây là phương trình vi phân tuyến tính cấp hai thuần nhất, hệ số không dễi, có các nghiệm tủy thuộc vào diễu kiện ban dầu, trong diều kiện đao đông tắt dẫn, biên độ dao đông giảm din theo thời gian.

Việc hiệu chỉnh để có được chính xáo các tham số ảnh hưởng đến kế quả phép đo như chiều dài đây, khối lượng vật nặng. Nelson [9] xử lý bằng các phần tích toán học phức tạp nhưng hiệu quả. Ngoài ra, trong thực tế thí nghiệm, quá trình đao động diễn ra trong không gian ba chiéu, bai loan sẽ phức tạp hơn rất nhiễu. 'Luy nhiên, những nội dung đó không phải là đối tượng nghiên cứu kỹ của khóa luận này.

Nghiên cứu trong khóa luận này sẽ khảo sát chỉ tiết hơn về các sự phụ thuộc của ghu kỳ vào góc lệch ban đầu, độ lin cậy của đo chủ kỳ bằng phương pháp thủ công và cách ước lượng gia tốc với điều kiện thực tế là khó xác định được trọng tâm g của con lắc. Từ đó đưa ra phương pháp phù hợp nhất, tối ưu nhất với điều kiện thí nghiệm ở trường nhổ thông. Chuyễn động của con lắc đơn không ma sát Con lắc đơn (toán học, lý tưởng) là hệ các vật bao gồm một vật nặng có khối lượng m treo tai một đầu dây có chiễu dải l. đầu kia của sợi dây được buộc cố định vào một điểm.

Điều kiện lý tưởng là: khếi lượng của sợi dây rất nhỏ có thể bỏ qua, kích thước của vật nhỏ hơn nhiều sơ với chiều dai cha day treo. Cá hệ treo trên một giá đỡ gắn cô định so với mặt đât, các lực ma sát, lực cản của con lắc với dây Ireo và với môi trường không khí được bỏ qua. Khi kéo vật ra khỏi vi trí cân bằng, vật có xu hướng chuyển đông về vị trí cân bằng, qua vị trí đó, vật chuyển động theo quán tính, sau khi đạt đến độ cao cực dại vật chuyển động thco hưởng ngược lại và quá trình dược lặp di lặp lại †ạo thành một đao động quanh vị trí cân bằng. Đây là phương trình vi phân tuyến tính cấp hai thuần nhất, hệ số không dễi, có các nghiệm tủy thuộc vào diễu kiện ban dầu, trong diều kiện đao đông tắt dẫn, biên độ dao đông giảm din theo thời gian.

Việc hiệu chỉnh để có được chính xáo các tham số ảnh hưởng đến kế quả phép đo như chiều dài đây, khối lượng vật nặng. Nelson [9] xử lý bằng các phần tích toán học phức tạp nhưng hiệu quả. Ngoài ra, trong thực tế thí nghiệm, quá trình đao động diễn ra trong không gian ba chiéu, bai loan sẽ phức tạp hơn rất nhiễu. 'Luy nhiên, những nội dung đó không phải là đối tượng nghiên cứu kỹ của khóa luận này.

Nghiên cứu trong khóa luận này sẽ khảo sát chỉ tiết hơn về các sự phụ thuộc của ghu kỳ vào góc lệch ban đầu, độ lin cậy của đo chủ kỳ bằng phương pháp thủ công và cách ước lượng gia tốc với điều kiện thực tế là khó xác định được trọng tâm g của con lắc. Từ đó đưa ra phương pháp phù hợp nhất, tối ưu nhất với điều kiện thí nghiệm ở trường nhổ thông. Chuyễn động của con lắc đơn không ma sát Con lắc đơn (toán học, lý tưởng) là hệ các vật bao gồm một vật nặng có khối lượng m treo tai một đầu dây có chiễu dải l. đầu kia của sợi dây được buộc cố định vào một điểm.

Điều kiện lý tưởng là: khếi lượng của sợi dây rất nhỏ có thể bỏ qua, kích thước của vật nhỏ hơn nhiều sơ với chiều dai cha day treo. Cá hệ treo trên một giá đỡ gắn cô định so với mặt đât, các lực ma sát, lực cản của con lắc với dây Ireo và với môi trường không khí được bỏ qua. Khi kéo vật ra khỏi vi trí cân bằng, vật có xu hướng chuyển đông về vị trí cân bằng, qua vị trí đó, vật chuyển động theo quán tính, sau khi đạt đến độ cao cực dại vật chuyển động thco hưởng ngược lại và quá trình dược lặp di lặp lại †ạo thành một đao động quanh vị trí cân bằng. Lý do chọn đề tài Vật lí học là một ngành khoa học thực nghiệm dỏi hỏi người học không chỉ cân nắm được kiến thức lý thuyết đoán hoc) ma con phải hiểu và vận dụng dược kiến thức đó trong thực tiễn.

Đối với học sinh, việc lảm thí nghiệm vật lí là cách để học sinh hiểu rõ hơn về kiến thức đã học. từ đó có thế áp dụng những kiến thức đó vào thực tiễn một cách hiệu quả, bước đầu chuẩn bi cho nghiên cứu khoa học ở mức hợc cao hơn. Vì vậy việc đưa thí nghiệm vào chương trình giảng dạy Vật lí phổ thông là rất cần thiết nhất là khi đổi mới chương trình sách giáo khoa vật lí phổ thông Tuy nhiên đối với đại đa số giáo dục phố thông hiện nay, việc vin dung giảng dạy kiến thức vật li thông qua thi nghiệm còn rất nhiều hạn chế. Đặc biệt là các trường miễn nui, ving sâu.

vùng xa các phòng thực bánh, thiết bị thực hảnh, thí nghiệm nhìn chung cén thiếu thốn, chưa đồng bộ. IIọc sinh không có diều kiên tự nghiên cứu trước khi tiến hành thí nghiệm (công việc này chỉ dừng lại trên giấy), nên khi làm thí nghiệm học sinh mật nhiễu thời gian dé làm quen với các dụng cụ, các bước liển hành thí nghiệm, ít có thời gian rên luyện kỹ năng sử dụng các bộ thí nghiệm đó trong quá trình học tập. Các thiết bị thí nghiệm đơn giản, chỉ phí thắp sẽ dẫn đến sự hiểu nhằm về lý thuyết đo ảnh hưởng của sai số wong quá trình thí nghiệm và không gây hừng thủ với học sinh, các thiết bị đắt tiền thi không phố biến được rộng rãi trong thực tế các nước đang phát triển. Những nguyên nhân cư bản trên khiến cho học sinh thiểu hứng thú với môn học và là trở ngại đối với học sinh trong việc tiếp thu trị thức vật lí Hinh 1.1 Con lie don Phương trình dao động của con lắc có thể được thiết lập qua định luật II Newton, hoặc qua định luật bảo toàn năng lượng.

Trong trường hợp áp dụng định luật II Newton, hoặc theo phương trình năng lương [I0] được áp dụng phổ biến trơng cáo tải liệu hướng dẫn thực hành cúa các hãng sản xuất thiết bị [4.6] Năng lượng của con lắc gồm động năng và thế năng được bảo Loản, tức là ;'l3J +mgl(I—eosg)— lí, Trong đó I là momen quán tính 7=, Ea là năng lượng toản phần, bằng chính thể năng cực đại ở hai điểm đảo ngược chiều chuyển động (khi ¢-a 1a góc lệch ban đầu), hay là động năng cực đại khi con lắc ở vị trí cân bằng. Thế năng cực đại Hạ được tính theo công thức E, =mg](—cosa) 'Tử đó ta có phương trình t{se} +mgi(—oos6) = mgÍ(— cos 2) 6 Chương 2: Thực nghiệm, trình bày về dụng cụ và bế trí xây dựng bài thí nghiệm con lắc đơn từ những dung cụ trên, vai trỏ của từng dụng cụ va phương án thí nghiệm. Thue nghiêm thông qua hai phương pháp khác nhau để ước lượng chủ kỳ dao động: đo đếm bằng đồng hồ bắm giây, bằng đồng hà đếm chu ky str dung cổng quang học Chương 3: Kết quá thực nghiệm, nêu kết quả thí nghiệm và xử lý số liệu, qua đó rút ra những nhận xét, đánh giá các vấn dé lin quan Cuối cừng lá các phẩn kết luận và kiến nghị, phụ lục báng số liệu và tài liệu tham khảo. MUC LUC MO DAU 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ