Đặt vấn đề Trong số các loài gia súc ở Việt Nam hiện nay, con lợn giữ vai trò rất quan trọng. Nó cung cấp một khối lượng thịt lớn đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Ngoài ra, chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng lớn phân chuồng cho ngành trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như da, mỡ cho ngành công nghiệp chế biến. Nước ta từ ngày hội nhập với nền kinh tế thế giới chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, số đầu lợn năm 2002 là 23,17 triệu con đứng thứ 7 trên thế giới, đến năm 2004 tổng đàn lợn cả nước là 26,14 triệu con.
Trong chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 16 tháng 1 năm 2008, trong đó có chiến lược phát triển chăn nuôi lợn. Đến năm 2020 tổng đàn lợn nước ta ước đạt khoảng 35 triệu con, bình quân tăng 2% trên năm. Sản lượng thịt các loại đạt 5500 ngàn tấn, trong đó thịt lợn chiếm 65%, sản lượng thịt xẻ trung bình đạt 56kg trên đầu người. Để đạt được các chỉ tiêu trên, trong những năm qua, Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển, như nâng cao chất lượng con giống, thức ăn, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trừ dịch bệnh.
Tuy nhiên trong những năm qua ngành chăn nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn. Tình hình dịch bệnh vẫn xảy ra thường xuyên, đặc biệt là bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản sau khi sinh. Bệnh viêm tử cung là một trong những tổn thương ở đường sinh dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và năng suất chăn nuôi của lợn nái, như lợn con sinh ra bị còi cọc, lợn nái động dục lại chậm, không thụ thai, vô sinh và có thể mất khả năng sinh sản. Bệnh viêm tử cung là bệnh sinh sản gây ra do 2 một số vi khuẩn như: Escherichia coli, streptococcus, staphylococcus….
Bệnh tuy không xảy ra ồ ạt như các bệnh truyền nhiễm nhưng gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản như: gây chết thai, lưu thai, sẩy thai… nghiêm trọng hơn bệnh vẫn âm thầm làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng con giống. Với mục đích góp phần vào nâng cao khả năng sinh sản và giảm chi phí thuốc thú y cho đàn lợn nái nuôi tại trại lợn của Công ty TNHH 1 thành viên sản xuất kinh doanh thương mại Trường Thịnh, đường 398 Lim Xuyên - sông Khê, Bắc Giang. Xuất phát từ thực tế của trại chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn của Công ty TNHH một thành viên sản xuất kinh doanh thương mại Trường Thịnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh" 1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục tiêu của đề tài - Đánh giá tỷ lệ cảm nhiễm bệnh viêm tử cung ở lợn. - Đánh giá hiệu quả của hai phác đồ điều trị. - Xác định những biểu hiện lâm sàng của bệnh 1. Yêu cầu của đề tài - Điều tra tình hình chăn nuôi của trại.
- Đánh giá hiệu quả của hai phác đồ điều trị. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học Đề tài xác định một số thông tin có giá trị khoa học bổ sung thêm những hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn, là cơ sở khoa học cho những biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả. Ý nghĩa thực tế - Xác định được một số thuốc có hiệu lực và độ an toàn cao trong điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn, đề phòng và khống chế được tỷ lệ mắc bệnh.
- Những khuyến cáo từ kết quả của đề tài giúp cho người chăn nuôi hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái Qúa trình hoạt động sinh lý của cơ quan sinh dục là rất quan trọng, giúp gia súc trong hoạt động sinh sản nhằm duy trì nòi giống.
Cấu tạo gồm bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong. Bộ phận sinh dục bên ngoài * Âm môn (vulva) Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm dưới hậu môn. Bên ngoài có hai môi, trên hai môi có sắc tố, nhiều tuyến tiết chất nhờn màu trắng và tuyến tiết mồ hôi. * Âm vật (clitoris) Âm vật của con cái được cấu tạo giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại, bên trong có các thể hổng.
Trên âm vật có các nếp da tạo ra mũ âm vật, ở giữa âm vật gấp xuống dưới là chỗ tập trung các đầu mút các dây thần kinh. * Tiền đình (vetstibulum vaginae simusinogenitalism) Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo. Trong tiền đình có màng trinh, phía trước là âm đạo. Màng trinh là các sợi cơ đàn hồi do hai lớp niêm mạc gấp lại tạo thành một nếp.
Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật. Bộ phận sinh dục bên trong * Âm đạo (vagina) Âm đạo là một ống tròn để chứa cơ quan sinh dục đực trong quá trình giao phối, đồng thời là đường cho thai ra ngoài trong quá trình đẻ, 5 phía trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh. Âm đạo được cấu tạo bởi ba lớp: Lớp liên kết: bên ngoài. Lớp cơ trơn: bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng, các lớp cơ âm đạo liên kết với các cơ ở cổ tử cung.
Lớp niêm mạc: trên bề mặt có nhiều tế bào thượng bì gấp nếp dọc. Ngoài ra âm đạo còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ trong tử cung.Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm. * Tử cung (uterus) Tử cung có cấu tạo phù hợp với chức năng phát triển và dinh dưỡng bào thai. Trứng được thụ tinh ở ống dẫn trứng rồi trở về tử cung làm tổ, ở đây hợp tử phát triển nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ thông qua lớp niêm mạc tử cung cung cấp.
Tử cung còn có nhiệm vụ đẩy thai ra ngoài trong quá trình sinh đẻ nhờ vào các lớp cơ. Tử cung được cấu tạo bởi 3 lớp: Ngoài cùng là tổ chức liên kết (Perimetrium) Lớp cơ trơn (Myometrium): giữ vai trò quan trọng trong việc đẩy thai ra ngoài. Nó là lớp cơ trơn khỏe nhất trong cơ thể. Bên trong các cơ trơn có những sợi liên kết đàn hồi và tĩnh mạch lớn.
Các lớp cơ đan vào nhau làm cho tử cung chắc và có tính đàn hồi cao. Lớp niêm mạc tử cung (Endometrium): màu hồng, được phủ lên bằng những tế bào biểu mô kéo dài thành lông nhung. Xen kẽ giữa các tế bào biểu mô là các tuyến tiết chất nhầy. Chất nhày được gạt về cổ tử cung khi các lông rung động.
Tử cung nằm trong xoang chậu, phía trên là âm đạo, phía dưới là bàng quang. Tử cung của lợn thuộc loại tử cung hai sừng (Uteus Bicorus). Tử cung được chia làm ba phần: cổ, thân và hai sừng. Sừng tử cung một đầu thông với thân tử cung một đầu thông với ống dẫn trứng.
Sừng tử cung 6 của lợn ngoằn ngoèo như ruột non dài 0,5 - 1 m. Ở lợn thai làm tổ đều hai sừng tử cung. Thân tử cung lợn ngắn, độ dài khoảng 3 - 5 cm nối giữa sừng tử cung và cổ tử cung. Niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp gấp nhăn nheo theo chiều dọc.
Cổ tử cung thông với âm đạo. Cổ tử cung: là phần ngoài của tử cung, cổ tử cung của lợn dài và tròn, không gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt dài xen kẽ cài răng lược với nhau do đó dễ dàng cho việc thụ tinh nhân tạo đồng thời cũng dễ gây sảy thai (Đặng Quang Nam và cs, 2002 [10]). Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [4] thì cổ tử cung lợn dài 10 - 18 cm. * Ống dẫn trứng Ống dẫn trứng (vòi fallop) nằm ở màng treo buồng trứng.
Khi có tinh trùng vào đường sinh dục của gia súc cái, tế bào trứng có thể bị đứng lại ở các đoạn khác nhau của ống dẫn trứng. Ống dẫn trứng được chia thành hai đoạn: Đoạn ống dẫn trứng phía buồng trứng: phần đầu trên thông với xoang bụng ở gần buồng trứng, được phát triển to tạo thành một cái phễu để hứng tế bào trứng gọi là loa kèn. Loa kèn có nhiều tua, nhung mao rung động để hứng tế bào trứng. Quá trình thụ tinh xảy ra khi tinh trùng và tế bào trứng gặp nhau ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng.
Đoạn ống dẫn trứng phía sừng tử cung: gắn với mút sừng tử cung. Đoạn này phía ngoài là lớp liên kết sợi, được kéo dài từ màng treo buồng trứng. Ở giữa là hai lớp cơ, cơ vòng phía trong cơ dọc phía ngoài. Trong cùng là lớp niêm mạc làm nhiệm vụ tiết niêm dịch.
Phía trên lớp niêm mạc có lớp nhung mao luôn rung động để đẩy tế bào trứng hay hợp tử xuống tử cung làm tổ. Cấu tạo ống dẫn trứng gồm có phễu, phần rộng và phần eo. Phễu mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn. Phễu tiếp nối với phần 7 rộng.
Phần rộng chiếm khoảng 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ. Phần eo nối tiếp sừng tử cung, nó có thành rộng hơn phần rộng và ít nếp nhăn hơn. Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng đến nơi thụ tinh trong ống dẫn trứng (1/3 phía trên ống dẫn trứng), tiết các chất để nuôi dưỡng trứng, duy trì sự sống và gia tăng khả năng sống của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung. Cấu tạo: phía ngoài được bao bọc bởi một lớp màng bằng tổ chức liên kết sợi, bên trong buồng trứng chia làm hai miền.
Miền vỏ và miền tủy đều được cấu tạo bằng tổ chức liên kết sợi xốp và tạo cho buồng trứng một lớp đệm (Stromaovaris). Ở vỏ có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng. Trên buồng trứng của một lợn cái 10 ngày tuổi đã có khoảng 60.