Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất và tài nguyên đặc thù chịu sự quản lý nghiêm ngặt của Nhà nước, mà còn tham gia vào lưu thông dân sự với tư cách là một loại tài sản có giá trị kinh tế lớn. Quyền sử dụng đất (QSDĐ) tại Việt Nam là một loại quyền tài sản phái sinh từ chế độ sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Do tính chất đặc thù này, các giao dịch liên quan đến QSDĐ, đặc biệt là biện pháp thế chấp quyền sử dụng đất (TCQSDĐ) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và tiếp cận nguồn vốn tín dụng, chịu sự điều chỉnh phức tạp và đan xen của nhiều đạo luật chuyên ngành.

Mặc dù hệ thống pháp luật thực định đã ban hành nhiều văn bản quy phạm điều chỉnh quan hệ TCQSDĐ, thực tiễn thi hành cho thấy sự chồng chéo, mâu thuẫn và thiếu đồng bộ giữa các quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành. Những bất cập trong việc xác định điều kiện tài sản, kiểm tra tư cách chủ thể tham gia giao dịch, đăng ký biện pháp bảo đảm và xử lý tài sản thế chấp đã dẫn đến tình trạng tranh chấp gia tăng tại Tòa án, đồng thời gây nhiều rủi ro, lúng túng cho các tổ chức hành nghề công chứng trong quá trình thực hiện nghiệp vụ. Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận tập trung nghiên cứu đề tài nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp bách.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận, các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về thế chấp quyền sử dụng đất.
  2. Phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về TCQSDĐ trong thực tế nghiệp vụ tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tuấn Ngọc.
  3. Đề xuất các định hướng, kiến nghị sửa đổi quy định pháp luật và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật thế chấp quyền sử dụng đất trong hoạt động công chứng.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Thu thập, tổng hợp các cơ sở lý luận, nguyên tắc và nội dung pháp lý điều chỉnh biện pháp TCQSDĐ.
  2. Khảo sát, đối chiếu các quy định pháp luật với hồ sơ, số liệu thực tế tại tổ chức hành nghề công chứng nhằm chỉ ra các điểm nghẽn, nguyên nhân dẫn đến rủi ro pháp lý.
  3. Xây dựng luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và quy trình nghiệp vụ liên ngành.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về thế chấp quyền sử dụng đất (khái niệm, đặc điểm, vai trò, điều kiện, chủ thể, trình tự thủ tục, giải quyết tranh chấp) và thực tiễn thực hiện pháp luật tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tuấn Ngọc.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống pháp luật về TCQSDĐ tại Việt Nam và hoạt động công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tuấn Ngọc.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát hệ thống pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quản lý kinh tế - xã hội bằng pháp luật.

Khung pháp lý được tác giả sử dụng làm chuẩn mực đối chiếu và phân tích bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (quy định về chế độ sở hữu toàn dân và quyền tài sản).
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (đạo luật chung điều chỉnh giao dịch dân sự và các biện pháp bảo đảm).
  • Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản tiền nhiệm (Luật Đất đai năm 1993, 2003; BLDS năm 1995).
  • Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Luật Công chứng năm 2014.
  • Nghị định số 21/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
  • Quyết định số 220/QĐ-TA ngày 06/04/2016 của Tòa án nhân dân tối cao về công bố án lệ.

Tác giả sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu chính:

  • Phương pháp thu thập thông tin: Tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ lịch sử; thu thập số liệu, sổ sách, hồ sơ công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất thực tế lưu trữ tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tuấn Ngọc.
  • Phương pháp phân tích – tổng hợp: Mổ xẻ các điều khoản luật định, so sánh đối chiếu với các tình huống giao dịch thực tế, tổng hợp các vướng mắc pháp lý và thực tiễn để khái quát hóa thành các nhóm hạn chế và đề xuất giải pháp.

Nguồn dữ liệu của đề tài gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định, hồ sơ nghiệp vụ tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tuấn Ngọc (2018 - 2022), cùng các công trình khoa học chuyên ngành (luận án tiến sĩ của Lê Thị Thúy Bình; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thu Trang, Trần Lê Hưng, Lê Thị Thanh Huyền, Vũ Thị Phước; các giáo trình của Đại học Luật Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân và các bài báo trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những lý luận cơ bản của pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất

Chương 1 xây dựng khung lý thuyết nền tảng cho đề tài. Tác giả đưa ra định nghĩa học thuật: Thế chấp quyền sử dụng đất là việc bên thế chấp dùng QSDĐ thuộc sở hữu/sử dụng hợp pháp của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận thế chấp; bên thế chấp tiếp tục sử dụng đất trong thời hạn thế chấp mà không phải chuyển giao quyền sử dụng đất trên thực tế cho bên nhận thế chấp.

Ba đặc điểm pháp lý cốt lõi của TCQSDĐ được xác lập:

  1. Đối tượng thế chấp là quyền tài sản (vật quyền), không phải quyền sở hữu đất đai: Do đất đai thuộc sở hữu toàn dân, tài sản thế chấp ở đây là quyền khai thác giá trị sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc công nhận.
  2. Không làm chuyển giao quyền sử dụng đất trên thực tế: Bên thế chấp chỉ bàn giao bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) để làm tin và bảo đảm nghĩa vụ, không chuyển giao quyền chiếm hữu vật chất hay thay đổi nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với Nhà nước.
  3. Trình tự, thủ tục mang tính bắt buộc và nghiêm ngặt: Hợp đồng TCQSDĐ vừa phải lập thành văn bản, vừa phải qua thủ tục công chứng/chứng thực và bắt buộc đăng ký biện pháp bảo đảm tại cơ quan đăng ký đất đai để có hiệu lực pháp lý.

Chương này cũng phân tích vai trò của TCQSDĐ đối với ba nhóm chủ thể: giúp bên thế chấp tiếp cận nguồn vốn phục vụ sản xuất - kinh doanh; giúp bên nhận thế chấp phòng ngừa rủi ro tín dụng nhờ tính cố định và giá trị kinh tế của đất đai; giúp xã hội luân chuyển nguồn vốn và giải phóng giá trị kinh tế của nguồn lực đất đai. Các quy định về điều kiện thế chấp (Điều 188 Luật Đất đai 2013), chủ thể thế chấp (hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp FDI), trình tự 6 bước từ ký hợp đồng tín dụng đến xử lý tài sản thế chấp và thẩm quyền giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân nơi có bất động sản cũng được hệ thống hóa chi tiết.

Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về thế chấp quyền sử dụng đất và thực tiễn thực hiện tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tuấn Ngọc

Chương 2 tập trung phân tích các nhân tố chi phối (chế độ sở hữu toàn dân, nhu cầu vốn kinh tế - xã hội, xu hướng hội nhập quốc tế hướng đến chủ thể cá nhân và pháp nhân) và chỉ ra các mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật thực định:

  • Xung đột về cơ chế bảo đảm nhiều nghĩa vụ: Khoản 1 Điều 296 BLDS 2015 cho phép dùng một tài sản bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ nếu giá trị lớn hơn tổng nghĩa vụ. Tuy nhiên, quy định bên thế chấp phải nộp bản gốc GCNQSDĐ cho bên nhận thế chấp khiến việc thế chấp tài sản tại nhiều tổ chức tín dụng khác nhau trên thực tế không thể thực hiện được.
  • Hạn chế chủ thể thế chấp và nhận thế chấp: Điều 278 BLDS 2015 chỉ đề cập đến việc thế chấp QSDĐ của cá nhân, hộ gia đình mà thiếu vắng tổ chức; Điều 729 và 730 BLDS 2015 chưa cho phép hộ gia đình, cá nhân thế chấp QSDĐ tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài hay ngân hàng liên doanh đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
  • Thiếu chuẩn mực pháp lý về tranh chấp: Luật chưa có định nghĩa rõ ràng về "đất có tranh chấp", dẫn đến việc xác nhận tình trạng đất tại Ủy ban nhân dân cấp xã gặp nhiều tùy tiện.

Tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tuấn Ngọc, hoạt động công chứng đã phát huy ưu điểm trong việc kiểm tra, đối chiếu hồ sơ gốc, thẩm định tính xác thực của giao dịch và lưu trữ dữ liệu chứng cứ quan trọng phục vụ xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn tại văn phòng bộc lộ nhiều vướng mắc nghiêm trọng:

Tiêu chí pháp lý Quy định pháp luật hiện hành Bất cập & Vướng mắc thực tiễn tại VPCC Nguyễn Tuấn Ngọc
Xác định chủ thể hộ gia đình Thành viên có chung QSDĐ tại thời điểm cấp GCNQSDĐ (Điều 3 LĐĐ 2013, Điều 101 BLDS 2015). Cơ quan địa chính địa phương làm thất lạc hoặc không lưu trữ hồ sơ cấp đất ban đầu, không xác nhận được danh sách thành viên hộ; tiềm ẩn nguy cơ hợp đồng bị tuyên vô hiệu do thiếu chữ ký thành viên.
Phạm vi bên nhận thế chấp Tổ chức tín dụng Việt Nam; mở rộng cho tổ chức kinh tế khác và cá nhân (Điều 35 Nghị định 21/2021/NĐ-CP). Chưa có thông tư hướng dẫn cụ thể về điều kiện tiếp nhận thế chấp của cá nhân/tổ chức kinh tế; cản trở người dân tiếp cận các chi nhánh ngân hàng nước ngoài có tiềm lực vốn lớn.
Xác định tài sản gắn liền với đất Chỉ công chứng và thế chấp phần tài sản gắn liền với đất đã được chứng nhận quyền sở hữu (Điều 167, 179 LĐĐ 2013). Người sử dụng đất xây dựng nhà ở, công trình nhưng không làm thủ tục hoàn công, đăng ký biến động. GCNQSDĐ chỉ ghi nhận đất trống, buộc công chứng viên chỉ công chứng QSDĐ, gây thất thoát giá trị định giá.
Định giá tài sản bảo đảm Thỏa thuận giữa các bên hoặc thông qua tổ chức thẩm định giá độc lập. Sức ép áp chỉ tiêu doanh số tín dụng của một số ngân hàng thương mại dẫn đến việc định giá khống tài sản, tạo điều kiện cho "cò tín dụng" can thiệp, gây nhiễu loạn hoạt động công chứng.

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tuấn Ngọc

Chương 3 đề xuất 4 định hướng chiến lược: hoàn thiện đồng bộ các điều kiện bảo đảm thực thi; thiết lập cơ chế liên ngành bảo đảm thực hiện; nâng cao trình độ và tính chủ động của chủ thể áp dụng pháp luật; đẩy mạnh tính tương thích với chuẩn mực và điều ước quốc tế.

Các nhóm giải pháp cụ thể được phân định theo 2 cấp độ:

  1. Kiến nghị hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật cấp trung ương:

    • Xử lý triệt để sự mâu thuẫn giữa Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự và Luật Công chứng; thực hiện quy trình soạn thảo đồng thời dự án luật cùng dự thảo nghị định, thông tư hướng dẫn để loại bỏ "khoảng trống pháp lý".
    • Mở rộng phạm vi cho phép chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh hoạt động tại Việt Nam được nhận thế chấp QSDĐ từ hộ gia đình, cá nhân.
    • Thúc đẩy việc tổng kết thực tiễn xét xử, ban hành thêm nhiều án lệ về hợp đồng thế chấp QSDĐ theo Quyết định số 220/QĐ-TA ngày 06/04/2016 nhằm tạo khuôn mẫu thống nhất cho Tòa án các cấp.
  2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tuấn Ngọc:

    • Thiết lập cơ chế phối hợp thông tin trực tuyến giữa tổ chức hành nghề công chứng với Văn phòng đăng ký đất đai, UBND cấp quận/huyện, cơ quan Công an và Cục Quản lý xuất nhập cảnh để tra cứu nhanh chóng dữ liệu nhân thân, tình trạng pháp lý và biến động của thửa đất.
    • Chuẩn hóa quy định về việc thực thi quyền của cá nhân đứng tên trên GCNQSDĐ trong quan hệ tài sản vợ chồng (tài sản riêng nhập vào tài sản chung phải ghi rõ trên GCNQSDĐ); quy định rõ thẩm quyền đại diện của chủ hộ gia đình trong việc xác lập hợp đồng thế chấp.
    • Nâng cao tính chuẩn mực trong thẩm định thực địa, kiểm soát chặt chẽ hồ sơ pháp lý đối với các thửa đất thuê trả tiền hàng năm (chỉ được thế chấp tài sản gắn liền với đất) nhằm ngăn ngừa tình trạng định giá khống từ phía ngân hàng.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính: Khóa luận đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận chuyên sâu về thế chấp quyền sử dụng đất trong bối cảnh chế độ sở hữu toàn dân tại Việt Nam; phân tích toàn diện 4 điều kiện thế chấp (Điều 188 LĐĐ 2013), các chủ thể tham gia và quy trình 6 bước thực hiện giao dịch bảo đảm. Đồng thời, công trình phản ánh chính xác các điểm nghẽn thực tiễn tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tuấn Ngọc giai đoạn 2018 - 2022, bao gồm: hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình thiếu minh bạch, bất cập trong đăng ký tài sản gắn liền với đất, và hạn chế trong tiếp cận vốn từ ngân hàng ngoại.
  • Giải pháp và kiến nghị đề xuất: Đưa ra hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật đồng bộ (liên thông luật - dưới luật, mở rộng quyền nhận thế chấp cho TCTD nước ngoài, phát triển án lệ) gắn liền với các giải pháp nghiệp vụ công chứng (cơ chế phối hợp dữ liệu liên ngành, chuẩn hóa xác định tài sản và tư cách đại diện chủ thể).
  • Đóng góp so với các công trình trước: Tiếp thu các kết quả nghiên cứu trước đó của Nguyễn Thu Trang (2012), Lê Thị Thúy Bình (2016), Trần Lê Hưng (2017), Lê Thị Thanh Huyền (2018), khóa luận không dừng lại ở góc độ lý luận thuần túy hay hoạt động tố tụng tại Tòa án, mà đi sâu mổ xẻ trực tiếp từ góc độ tổ chức hành nghề công chứng – "người gác cổng" phòng ngừa rủi ro cho các giao dịch bảo đảm bằng bất động sản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Do thời gian thực tập có hạn và chịu ảnh hưởng của bối cảnh dịch bệnh, việc thu thập dữ liệu hồ sơ thực tế và tiếp cận các vụ án tranh chấp phức tạp đã qua xét xử tại Tòa án còn có những giới hạn nhất định về quy mô mẫu khảo sát.
  • Hướng phát triển tiếp theo: Dựa trên phạm vi đề tài, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát so sánh thực tiễn công chứng tại nhiều văn phòng công chứng ở các tỉnh, thành phố khác nhau; đồng thời đi sâu đánh giá tác động của các định hướng sửa đổi Luật Đất đai đối với quyền thế chấp bất động sản của doanh nghiệp và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự; công chứng viên, trợ lý công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng; cán bộ quản lý tín dụng, pháp chế ngân hàng và chuyên viên tại Văn phòng đăng ký đất đai.
  • Nội dung giá trị: Phần đáng tham khảo nhất là phân tích quy trình nghiệp vụ kiểm tra tài sản/chủ thể tại Chương 2, danh mục đối chiếu các điểm xung đột giữa Luật Đất đai và Bộ luật Dân sự, cùng các đề xuất xây dựng cơ chế phối hợp dữ liệu liên ngành giữa văn phòng công chứng với cơ quan quản lý đất đai và công an tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Thế chấp quyền sử dụng đất có làm chuyển giao quyền sử dụng đất trên thực tế cho bên nhận thế chấp không?
Không. Căn cứ lý luận và quy định pháp luật, bên thế chấp chỉ chuyển giao bản gốc GCNQSDĐ cho bên nhận thế chấp nắm giữ để làm tin và bảo đảm nghĩa vụ. Quyền sử dụng đất trên thực tế vẫn thuộc về bên thế chấp để tiếp tục khai thác, sử dụng trong thời hạn thế chấp.

2. Hộ gia đình, cá nhân thuê đất của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm có được thế chấp quyền sử dụng đất không?
Không. Theo điểm đ khoản 2 Điều 179 Luật Đất đai 2013, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm không có quyền thế chấp QSDĐ mà chỉ được thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo quy định.

3. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất phát sinh hiệu lực pháp lý từ thời điểm nào?
Hợp đồng TCQSDĐ bắt buộc phải được công chứng/chứng thực và thực hiện thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm tại cơ quan đăng ký đất đai. Giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

4. Khó khăn lớn nhất trong việc xác định chủ thể hộ gia đình sử dụng đất tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tuấn Ngọc là gì?
Khó khăn lớn nhất là tình trạng GCNQSDĐ được cấp cho "hộ gia đình" từ nhiều năm trước nhưng cơ quan quản lý đất đai địa phương làm thất lạc hoặc không lưu trữ hồ sơ kê khai ban đầu. Do đó, công chứng viên không thể xác định chính xác danh sách các thành viên có chung quyền sử dụng đất tại thời điểm cấp giấy, tiềm ẩn rủi ro phát sinh tranh chấp và hợp đồng bị tuyên vô hiệu.

5. Pháp luật hiện hành có cho phép cá nhân và tổ chức kinh tế không phải ngân hàng nhận thế chấp quyền sử dụng đất không?
Có. Căn cứ Luật Đất đai 2013 và Điều 35 Nghị định 21/2021/NĐ-CP, cá nhân và tổ chức kinh tế không phải là tổ chức tín dụng được phép nhận thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất khi đáp ứng các điều kiện pháp luật quy định.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Ngọc Diệp đã giải quyết một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật thế chấp quyền sử dụng đất tại Việt Nam giai đoạn 2018 - 2022. Thông qua khảo sát nghiệp vụ thực tế tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tuấn Ngọc, tác giả đã làm rõ các xung đột pháp lý thực định và những vướng mắc về xác định chủ thể hộ gia đình, định giá tài sản cũng như đăng ký tài sản gắn liền với đất. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp liên ngành được đề xuất có giá trị thực tiễn cao, góp phần nâng cao tính an toàn pháp lý cho các giao dịch bảo đảm và hoạt động công chứng trong nền kinh tế thị trường.