Chương I1: Lý luận chung vẻ quyên sử dụng đất của hộ gia đình và thế chấp quyên sử dụng đất của hộ gia đình để đảm bảo tiền vay tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình để đảm bảo tiền vay tại ngân hàng thương mại và kiến nghị hoàn thiện. LY LUAN CHUNG VE QUYEN SU DUNG DAT CUA HO GIA DINH VA THE CHAP QUYEN SU DUNG DAT CUA HO GIA DINH DE DAM BAO TIEN VAY TAI NGAN HANG THUONG MAI Trong giai đoạn hiện nay, hộ gia đình đang là đối tượng đầu tư rất lớn của các ngân hàng thương mại. Số lượng giao dịch thế chấp giữa các hộ gia đình và ngân hàng không ngừng gia tăng.
Vì vậy, để thực hiện nghiên cứu Pháp luật vẻ thế chấp quyên sử dụng đất của hộ gia đình để đảm bảo tiền vay tại ngân hàng thương mại, trước tiên người viết sẽ nêu ra những van dé chung về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, tiếp sau đó sẽ đi khái quát chung về quyền sử dụng đất của hộ gia đình và sau cùng tổng quan vẻ thế chấp quyên sử dụng đất của hộ gia đình để đảm bảo tiền vay tại ngân hàng thương mại. KHAI QUAT CHUNG VE QUYEN SU DUNG DAT CUA HO GIA DINH 1. Khái niệm quyên sử dụng đất của hộ gia đình Đất đai luôn là một vấn đề được nhiều người quan tâm và chú ý, cũng vì thế mà Nhà nước ta đã cho ra đời cũng như không ngừng hoàn thiện pháp luật đất đai để đảm bảo bảo vệ quyên lợi cũng như các trách nhiệm, nghĩa vụ mà người dân cần tuân theo. Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.
Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyền nhượng, công nhận quyên sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ôn định. Như vậy, các tô chức, cá nhân, hộ gia đình chỉ có quyền sử dụng đất đai chứ không có quyền định đoạt đất đai. Quyên sử dụng đất có thể được hiểu là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyền giao từ những chủ thể khác thông qua việc chuyển đôi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho. từ những chủ thé > Diéu 4 Luat dat dai 2013: “Dat dai thudc sé hitu toan dân do Nhà nước dai diện chủ sở hữu và thong nhat quản lý.
Nhà nước trao quyền sử dụng đât cho người sử dụng đât theo quy định của Luật này”. khác có quyền sử dụng đất”. Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015 lần đầu tiên chính thức chi nhận quyền sử dụng đất là một quyên tài sản: “Quyên tài sản là quyên trị giá được băng tiền, bao gồm quyên tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyên tài sản khác”. Thực ra, việc Bộ luật Dân sự 2015 COI quyền sử dụng đất là quyền tài sản không thực sự mới so với Bộ luật Dân sự 2005.
Bởi lẽ, Điều 322 Bộ luật Dân sự 2005 về Quyên tài sản dùng để bảo đảm nghĩa vụ dân sự đã liệt kê quyền sử dụng đất. Quy định mới của Bộ luật Dân sự 2015 mặt khác hoàn toàn phù hợp với Khoản 20, Điều 3 Luật Đất đai 2013 vì quyền sử dụng đất trị giá được bằng tiên: “Giá trị quyền sử dụng đất là gia tri bang tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định”. Nguyễn Ngọc Điện cho rang quyền sử dụng đất là quyền cho phép chủ thể tiếp cận, nắm giữ, khai thác năng lực sinh lợi và công dụng của đất theo quy định của pháp luật. Trong điều kiện đất thuộc sở hữu toàn dân, quyền sử dụng đất có giá trị tiền tệ và chuyển nhượng được trong giao lưu dân sự.
Quyền sử dụng đất có xu hướng được nhìn nhận trong luật Việt Nam là bất động sản cơ bản trong khối tài sản thuộc sở hữu tư nhân, giống như đất trong luật của các nước thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về đất”. Khác với hệ thống pháp luật các nước trên thế giới, pháp luật Việt Nam ghi hộ gia đình là một trong bảy nhóm chủ thể có quyền sử dụng đất”. Trong các loại chủ thể sử dụng đất thì hộ gia đình đóng vai trò quan trọng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất. Nguyễn Minh Tuần thống kê hiện nay, ở Việt Nam có gần 80% dân số sống ở nông thôn.
tư liệu sản xuất chủ yếu của người nông dân là đất đai. Tuy nhiên, đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân và Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Nhà nước giao cho hộ nông dân quyên quản lý, khai thác đất đai hưởng hoa lợi, lợi tức trong thời hạn nhất định, hết thời hạn đó Nhà nước sẽ điều chỉnh lại việc giao đất để phù hợp với điều kiện kinh * Người sử dụng đất có các quyền chung và được thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất theo quy định tại Chương XI: Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Luật Đất đai 2013. > Nguyễn Ngọc Điện (2016), Giáo trình Luật dân sự - Tập ï, Nxb.
ĐHQG-HCM, Tp. ° Điều 5 Luật Đất đai 2013 ghi nhận bảy nhóm chủ thể có quyền sử dụng đất. 10 tế, xã hội tại thời điểm giao quyền sử dụng đất. Đối với kinh tế hộ gia đình thì quyên sử dụng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và là tài sản có giá trị lớn nhất thuộc sở hữu chung của hộ gia đình”.
Chủ thể sử dụng đất là hộ gia đình đã được đưa vào từ Luật Đất đai 1993 nhưng khái niệm thế nào là hộ gia đình sử dụng đất thì luật lại không đề cập đến suốt cả một thời gian dài 20 năm (trước khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành). Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai 2013 định nghĩa hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống. nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất. Theo Khoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 do Quốc hội ban hành ngày 19 tháng 6 năm 2014 (sau đây gọi là Luật Hôn nhân và Gia đình 2014), gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thông hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.
Khoản 16 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 liệt kê thành viên gia đình gồm vợ, chồng: cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con đâu, con TẾ: anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rễ, em rễ, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột. Cần lưu ý là những thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất không phải là tất cả thành viên có tên trong hộ khẩu. Người có tên trong hộ khẩu không phải lúc nào cũng là thành viên của hộ gia đình sử dụng đất. Nói cách khác, hộ khẩu không phải là cơ sở pháp lý xác lập quyền sử dụng đất của hộ gia đình”.
Để trở thành thành viên hộ gia 7 Nguyễn Minh Tuần (2012), “Xác định tư cách chủ thê thành viên hộ gia đình trong định đoạt quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ”, Luật học, số 2 (141), tr. Š Hộ khâu thường trú là cơ sở để xác định việc cư trú hợp pháp của công dân. Xem thêm Đïnh Công Trí (2007), “Cần phân biệt hộ khâu thường trú và hộ gia đình”, Khoa học pháp lý, số 6 (43), tr. 61-64 dẫn ra Quyết định giám đốc thâm số 20/2006/DS.GĐT ngày 02/8/2006 của Hội đồng Thâm phán Tòa án Nhân dân Tối cao về “V/v tranh chấp quyên sử dụng đất”.
Và Dương Quốc Thành (2005), “Một vài ý kiến về hộ khâu và hộ gia đình”, Tòa án nhân dân, s6 11, tr. 2-5 phân tích lịch sử hình thành khái nệm Hộ khâu và Hộ gia định. II đình sử dụng đất phải đảm bảo ba yếu tô. Một là những người trong hộ gia đình có quan hệ hôn nhân, huyết thống.
nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Hai là đang sống chung trong hộ gia đình. Ba là có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyên sử dụng đất; nhận chuyển quyên sử dụng đất. Dựa trên những nội dung phân tích trên, quyền sử dụng đất của hộ gia đình có thể hiểu như sau: “Quyên sử dụng đất của hộ gia đình là một dạng quyên tài sản của hộ gia đình, trong đó quy định những người có quan hệ hôn nhân, huyết thông, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển nhượng quyên sử dụng đất sẽ được hưởng các quyền của người sử dụng đất phù hợp với hình thức sử dụng đất theo quy định của pháp luật”.
Đặc điểm quyền sử dụng đất của hộ gia đình Quyên sử dụng đất của hộ gia đình là một trong các quyên tài sản được pháp luật công nhận cho chủ thể hộ gia đình sử dụng đất nên mang những đặc điểm của chung quyên sử dụng đất - một quyên tài sản đặc biệt. Trong quan hệ dân sự, người chủ sở hữu tài sản có quyên tự thực hiện đây đủ quyền năng của mình. Quyên năng quan trọng nhất là định đoạt số phận pháp lý của tài sản thông qua nhiều hình thức pháp lý khác nhau, có thể bán tài sản, cho thuê, cho mượn, để lại thừa kế, tặng cho tài sản phù hợp với các quy định pháp luật. Riêng đối với đất đai, quyền sử dụng do Nhà nước trao cho tuy là tài sản của người sử dụng đất, song là quyên tài sản đặc biệt.