phần mở đầu và kết luận, bài viết được chia ra thành 2 chương: Chương1: Khái quát về thẩm quyền giải quyết khiếu nại Nội dung chương nêu cơ bản về khái niệm, cơ sở và ý nghĩa của các thuật ngữ “Thẩm quyền”, “Thẩm quyền giải quyết khiếu nại”. Bên cạnh đó chỉ ra quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Chương 2: Thực trạng thẩm thẩm quyền giải quyết khiếu nại và kiến nghị nhằm hoàn thiện thẩm quyền giải quyết khiếu nại Phần này bao gồm việc nhận xét những điểm tiến bộ và hanh chế trong quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết khiếu nại cũng như tình hình áp dụng quy định này trên thực tế. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp về quy định của pháp luật cũng như về cơ chế thực hiện thẩm quyền trên thực tế của các cơ quan Nhà nước.
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI 1.1 KHÁI NIỆM THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI 1.1 Khái niệm thẩm quyền Thẩm quyền là gì? “Thẩm quyền” là một từ ngữ rất quen thuộc và được sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày. Thẩm quyền được nhắc đến trong rất nhiều tình huống khác nhau, ví dụ: thẩm quyền nhà nước, thẩm quyền của cơ quan, thẩm quyền của giám đốc trong một doanh nghiệp, thẩm quyền của cha mẹ trong gia đình, thẩm quyền của trưởng khu phố, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính…vvv. Có thể thấy, thẩm quyền xuất hiện từ trung ương đến địa phương, từ trong nhà ra ngoài phố, từ nhà nước đến công dân. Thẩm quyền có lúc tưởng chừng như một từ ngữ trang trọng (thẩm quyền của nhà nước) lại có lúc nghe rất bình dân (thẩm quyền của người cha trong gia đình).
Vì được sử dụng rộng rãi như vậy nên việc tìm hiểu khái niệm của “thẩm quyền” là một việc làm cần thiết. Về mặt ngôn ngữ học, theo định nghĩa tại đại từ điển tiếng Việt thì “Thẩm quyền” có nghĩa là “Quyền xem xét, quyết định một vấn đề hoặc với tư cách về mặt chuyên môn được thừa nhận để xem xét, quyết định một vấn đề” [24-tr. Từ điển tiếng Việt khác định nghĩa thẩm quyền với một nghĩa khác: “Thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và quyết định một vấn đề theo quy định của pháp luật” [43- tr. Trong tiếng Anh từ “Thẩm quyền” tương đương với từ “Competence” hoặc “Jurisdiction” [44-tr.
Tuy nhiên giữa hai từ ngữ này lại có những ý nghĩa khác nhau. Từ “Competence” hàm nghĩa là có khả năng, năng lực để đảm đương và làm tốt một công việc nào đó (the ability to do something well) [42]. Có thể diễn giải ra là một người có khả năng, năng lực để có thể làm tốt một công việc nào đó 1 thì anh ta có “thẩm quyền” đối với công việc đó. Với trường hợp này, “thẩm quyền” lại mang ý nghĩa như từ “năng lực”.
Trong khi đó, từ “Jurisdiction” lại là một thuật ngữ pháp lý (legal term) có nghĩa là quyền lực của cơ quan công quyền để ra một quyết định mang tính pháp lý đối với một ai hay một điều gì đó (authority that an official organization has to make legal dicisions about some body/something) [42]. Từ “Jurisdiction” bắt nguồn từ chữ latin jurisdictio (jur – law – luật pháp; dictio – saying – tiếng nói). Trong trường hợp này từ “thẩm quyền” lại chỉ giới hạn trong phạm vi quyền lực nhà nước, thuật ngữ này có nghĩa là quyền năng mà pháp luật trao cho cơ quan nhà nước để thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Dưới góc độ của khoa học pháp lý, “thẩm quyền” được hiểu là phương tiện mang tính pháp lý của cơ quan nhà nước, người có chức vụ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về quản lý nhà nước, một mặt nhân danh công quyền phán xét, quyết định một vấn đề nào đó do pháp luật quy định, mặt khác có nghĩa vụ phải phán xét, giải quyết vụ việc.
Thẩm quyền bao gồm tổng thể tất cả các quyền và nghĩa vụ mang tính quyền lực – pháp lý do pháp luật quy định [28-tr. Trong đó yếu tố quyền là quan trọng và minh thị nhất, mang tính quyết định còn yếu tố nghĩa vụ được xem xét như trách nhiệm, bổn phận phải được thực hiện. Hai yếu tố này đan xen, thẩm thấu vào nhau, tuy mâu thuẫn nhưng thống nhất cùng xác định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc giải quyết một vấn đề, một vụ việc cụ thể nào đó. Nói tóm lại, thẩm quyền là một khái niệm trừu tượng do đó có thể có nhiều cách hiểu khác nhau.
Chúng ta thường liên tưởng đến quyền lực nhà nước khi nhắc đến thẩm quyền, nhưng bên cạnh đó thẩm quyền còn được dùng trong nhiều tình huống khác. Theo quan điểm của tác giả trong nghiên cứu này thì “thẩm quyền” là một “phương tiện” để một chủ thể (cá nhân hay cơ quan, tổ chức) thực hiện một công việc nào đó trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Thẩm quyền có thể do pháp luật tạo ra, cũng có thể hình thành từ sự thỏa thuận và thậm chí là một sự áp 2 đặt, trong đó quyền lực là đặc điểm quan trọng nhất của thẩm quyền. Với cách hiểu như trên thì “thẩm quyền” bao gồm thẩm quyền không mang tính quyền lực nhà nước và thẩm quyền mang tính quyền lực nhà nước.
Hai loại thẩm quyền này được hiểu như sau: + Thẩm quyền không mang tính quyền lực nhà nước Thẩm quyền không mang tính quyền lực nhà nước là thẩm quyền không được hình thành trên cơ sở quy định của pháp luật hoặc có hình thành trên cơ sở quy định của pháp luật nhưng lại không nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước. Ví dụ, trong gia đình người mẹ có thẩm quyền quản lý, kiểm soát việc chi tiêu ngân sách gia đình, người cha có thẩm quyền quyết định những vấn quan trọng như việc xây nhà, đầu tư tài chính… thì đây là những thẩm quyền không mang tính quyền lực nhà nước mà chỉ là thẩm quyền trong gia đình. Pháp luật không quy định về thẩm quyền này mà nó chỉ được hình thành do sự thỏa thuận của các thành viên trong gia đình, thẩm quyền này cũng chỉ để thực hiện các công việc trong phạm vi gia đình. Thẩm quyền của giám đốc công ty cổ phần, giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn… có thể được hình thành trên cơ sở pháp luật (các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh như Luật Doanh nghiệp…vvv) nhưng cũng không liên quan đến việc thực hiện quyền lực nhà nước mà chỉ là thẩm quyền để quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp mình.
Bên cạnh đó, thẩm quyền không mang tính quyền lực nhà nước cũng được thể hiện ở thẩm quyền thực hiện thẩm quyền của cơ quan nhà nước. Nghĩa là thẩm quyền này tồn tại nhằm thực hiện những công tác nghiệp vụ hỗ trợ cho các cơ quan, chức vụ nhà nước trong quá trình thực hiện thẩm quyền (do pháp luật quy định) của mình. Loại thẩm quyền này của cơ quan, chức vụ nhà nước không do pháp luật quy định hay do nhà nước trao cho, tuy nhiên các cơ quan tùy vào nhiệm vụ, chức năng của mình có thể tự xây dựng một số thẩm quyền (không vi phạm pháp luật) mang tính nghiệp vụ để hỗ trợ cho công tác, hoạt động của cơ quan mình hoàn thành tốt những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. 3 + Thẩm quyền mang tính quyền lực nhà nước Thẩm quyền mang tính quyền lực nhà nước là thẩm quyền được hình thành trên cơ sở quy định của pháp luật do nhà nước trao và để thực hiện các chức năng của nhà nước.
Các cơ quan và chức vụ nhà nước đều có loại thẩm quyền này. Bởi lẽ Nhà nước thành lập ra cơ quan nhà nước để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước và nhà nước trao cho các cơ quan những thẩm quyền nhất định để thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình. Khi đó thẩm quyền của các cơ quan, chức vụ nhà nước được Nhà nước trao cho mang tính quyền lực nhà nước. Tính quyền lực nhà nước của thẩm quyền được thể hiện ở việc cơ quan, chức vụ nhà nước nhân danh Nhà nước, đại diện cho quyền lực nhà nước có quyền ra mệnh lệnh, chỉ thị buộc đối tượng (cơ quan, tổ chức, cá nhân) phải thực hiện.
Đây là đặc trưng cơ bản để phân biệt cơ quan nhà nước với cơ quan xã hội, tổ chức xã hội. Các cơ quan nhà nước thực hiện thẩm quyền này thông qua những con người làm việc trong cơ quan đó. Cơ sở của việc xác định thẩm quyền Nhà nước thực hiện quyền lực và chức năng của mình thông qua các cơ quan. Để thực hiện tốt các chức năng đó, nhà nước trao cho các cơ quan những phương tiện hữu hiệu để thực hiện chức năng của mình gọi là “thẩm quyền”.
Từ đó tồn tại nhiều loại thẩm quyền khác nhau phụ thuộc vào vị trí, nhiệm vụ quyền hạn của từng loại cơ quan trong tổng thể bộ máy nhà nước. Sự phân định thẩm quyền mang những nét đặc trưng riêng biệt được quy định bởi tính đa dạng và phức tạp của quản lý và tổ chức bộ máy nhà nước. Chính vì vậy, khi xác định thẩm quyền phải xét đến các yếu tố như: những đòi hỏi mang tính khách quan của quản lý nhà nước liên quan đến việc phân cấp, tổ chức bộ máy nhà nước; việc xác định thẩm quyền không được chồng chéo, không trùng lắp; việc xác định thẩm quyền của mỗi chủ thể phải được đặt trong một mô hình thống nhất giữa các cơ quan, đơn vị, các ngành, các cấp [45-tr. Như vậy, cơ sở của việc xác định thẩm quyền chính là 4 dựa vào chức năng, nhiệm vụ cụ thể của mỗi cơ quan, chức vụ nhà nước do pháp luật quy định.
Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền Như đã phân tích, thẩm quyền là phương tiện để các chủ thể thực hiện một công việc nào đó trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Do đó, việc xác định thẩm quyền có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội, giúp các chủ thể (cơ quan, tổ chức, cá nhân) thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình từ đó thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của cả tập thể. Đặc biệt, việc xác định thẩm quyền có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động quản lý nhà nước: Một là, việc xác định thẩm quyền chính xác và khoa học sẽ giúp các cơ quan nhà nước thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình với tính độc lập, hiệu quả cao nhất. Thẩm quyền được phân định rõ ràng giúp tránh được sự chồng chéo, trùng lắp, bỏ sót về thẩm quyền.