Chương 1: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI. Khái niệm chung về vụ việc dân sự trong tố tụng dân sự Trong đời sống hàng ngày, chúng ta có nhu cầu và yêu cầu cơ quan bảo vệ pháp luật thụ lý giải quyết một số vấn đề pháp lý nào đó nảy sinh những vấn đề dân sự, liên quan đến tranh chấp, hoặc không tranh chấp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự. Việc đánh giá dấu hiệu pháp lý các sự kiện này, để dẫn chiếu vào luật dân sự, xem nó thuộc vụ án dân sự, phải khởi kiện và cung cấp chứng cứ để toà án giải quyết bằng một vụ án, hay chỉ có yêu cầu để toà án công nhận và xử lý còn là điều khó khăn đối với một số người. Chính từ chỗ xác định chưa đúng tư cách tham gia tố tụng dân sự của mình, nên một số trường hợp đương sự do nhầm lẫn và khởi kiện sai, yêu cầu xử lý sai gây khó khăn cho cơ quan công quyền và cá nhân mình.
Các sự kiện pháp lý trong đời sống dân sự được nhà làm luật phân định hai dạng là vụ án dân sự và việc dân sự. Mỗi dạng có tiêu chí, dấu hiệu pháp lý, với đặc trưng riêng, đủ để phân biệt cái này với cái kia, hơn nữa, để giải quyết các dạng vụ việc này, toà án tiến hành các trình tự, thủ tục với thẩm quyền khác nhau theo quy định của luật tố tụng dân sự. Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ việc dân sự được hiểu là các vụ án tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và các việc về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, lao động. Vụ việc dân sự.
Thuật ngữ “tranh chấp”, trong tiếng Anh là “dispute”, thường được dùng để chỉ “tình trạng tồn tại giữa hai (hay nhiều) cá nhân, được tạo thành bởi một số dấu hiệu của sự phản đối, đối lập. Theo từ điển Tiếng Việt, tranh chấp 7 được giải thích là đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa các bên. Ở khía cạnh pháp lý, “tranh chấp” là sự bất đồng liên quan đến quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ giữa các bên khi họ tham gia các quan hệ pháp luật. Tuy nhiên cho đến nay, chưa có văn bản pháp lý nào đưa ra khái niệm cụ thể về “tranh chấp”.
Theo một định nghĩa của Toà án quốc tế (Permament Court of International Justice) trong phán quyết năm 1942 về vụ tranh chấp Mavrommatis, “tranh chấp (dispute) là sự bất đồng về mặt pháp lý hoặc mâu thuẫn, lợi ích giữa hai người trở lên”. Tranh chấp dân sự được hiểu là những tranh chấp phát sinh từ các quan hệ dân sự. Vậy thế nào là quan hệ dân sự? Ở Việt Nam, quan hệ dân sự có thể được hiểu và giải thích khác nhau theo hai nghĩa rộng, hẹp của khái niệm này. Theo nghĩa hẹp, quan hệ dân sự được hiểu là bao gồm các quan hệ tài sản và nhân thân phi tài sản phát sinh trong giao dịch dân sự (điều 121 BLDS năm 2005) Theo nghĩa rộng – quan điểm của đông đảo các luật gia, nhà nghiên cứu Việt Nam, khái niệm quan hệ dân sự được hiểu tương đối thống nhất là “các quan hệ giữa con người với nhau trong cuộc sống hàng ngày, các quan hệ về đời sống , sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện và tự so ý chí”.
Như vậy, quan hệ dân sự không chỉ bao gồm các quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của luật dân sự thuần tuý, mà cả các quan hệ có tính chất dân sự như kinh tế - thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình. Ở Việt Nam, trong lĩnh vực tố tụng dân sự, khái niệm “tranh chấp” (dispute) có sự phân biệt với “vấn đề”(matter) hay “vụ việc”(case) như thường được sử dụng trong pháp luật các nước trên thế giới. Vụ việc là khái niệm rộng hơn, bao hàm tranh chấp và các yêu cầu không có tính chất tranh chấp. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về đối tượng và phạm vi điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, khái niệm vụ việc dân sự được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các vụ án 8 trong các lĩnh vực dân sự, kinh tế - thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình; và các việc dân sự trong các lĩnh vực dân sự, kinh tế - thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình.1: Khái niệm chung về vụ án dân sự trong tố tụng dân sự hiện hành và trong các văn bản pháp luật trước đó.
Vụ án dân sự là các tranh chấp xẩy ra giữa các đương sự mà cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khởi kiện vụ án tại toà án có thẩm quyền, để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo quy định của “ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29 tháng 11 năm 1989 ” thì vụ án dân sự được hiểu là ( Điều 10 PL ) : - Những việc tranh chấp về quyền sở hữu, về hợp đồng, về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc những tranh chấp khác về quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự giữa công dân với nhau, giữa công dân với pháp nhân, giữa pháp nhân với nhau, trừ những việc thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác. Theo quy định của “ Bộ luật Tố tụng dân sự ” được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004, vụ án dân sự thường gặp mà chúng ta yêu cầu toà án giải quyết có thể là : Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án: - Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam. - Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản.
- Tranh chấp về hợp đồng dân sự. - Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 29 của Bộ luật dân sự. - Tranh chấp thừa kế tài sản. 9 - Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai. - Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật. - Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án: - Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
- Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. - Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. - Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ. - Tranh chấp về cấp dưỡng.
- Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định.2: Khái niệm chung về việc dân sự trong tố tụng dân sự hiện hành và trong các văn bản pháp luật trước đó. Trong cuộc sống thường ngày, khi có tranh chấp cái gì đó, chúng ta thường nghĩ ngay đến việc hoà giải, rồi sau đó là khởi kiện dân sự, còn khi cần giải quyết một vấn đề dân sự cụ thể, thì chúng ta lại không biết làm cái gì, làm từ đâu và cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết. Chính vì vậy, các việc như dân sự được toà án thụ lý giải quyết còn quá ít, vì người có yêu cầu chưa hiểu biết cần thiết về vấn đề này. Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu toà án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý, là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu toà án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động.
10 Như vậy, dấu hiệu pháp lý cơ bản nhất để nhận biết việc dân sự là không có tranh chấp giữa các bên, chỉ có yêu cầu toà án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự. Theo quy định của “ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29 tháng 11 năm 1989 ” thì việc dân sự được hiểu là ( Điều 10 PL ) : - Những việc về quan hệ hôn nhân và gia đình; - Những việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết, trừ những trường hợp quân nhân, cán bộ mất tích hoặc chết trong chiến tranh thuộc trách nhiệm giải quyết của các cơ quan hữu quan. - Những việc khiếu nại cơ quan hộ tịch về việc từ chối đăng ký hoặc không chấp nhận yêu cầu sửa đổi những điều ghi trong giấy tờ về hộ tịch. - Những việc khiếu nại về danh sách cử tri.
- Những việc khiếu nại cơ quan báo chí về việc không cải chính thông tin có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác. - Những việc khác do pháp luật quy định. Theo quy định của “ Bộ luật Tố tụng dân sự ” được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2005), việc dân sự thường gặp mà chúng ta yêu cầu toà án giải quyết có thể là: Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án: - Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, huỷ bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự. - Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó.
- Yêu cầu tuyên bố một người mất tích, huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích. 11 - Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết.