CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1. Một số khái niệm cơ bản về vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 1. Khái niệm vụ việc dân sự Trước khi có Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây gọi tắt là “BLTTDS”) Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về tố tụng, trong đó có Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (năm 1989), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (năm 1994), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động (năm 1998), Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài (1993), Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài.
Tại thời điểm này không có khái niệm “vụ việc dân sự”. Khái niệm “vụ việc dân sự” xuất hiện cùng với sự ra đời của BLTTDS được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011. Tại Điều 1 BLTTDS năm 2004 quy định: “Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Toà án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại Toà án”. Như vậy, nội dung của vụ việc dân sự bao gồm: vụ án dân sự và việc dân sự.
Vụ án dân sự phát sinh tại toà án trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động1. Việc dân sự là việc không có tranh chấp về quyền và lợi ích nhưng có yêu cầu của cá nhân, tổ chức đề nghị Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý mà phát sinh quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức này (dấu hiệu không có tranh chấp là dấu hiệu đăc trưng của việc dân sự). Từ đó có thể rút ra khái niệm vụ việc dân sự là “vụ việc dân sự xuất hiện trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện, quyền yêu cầu để gởi đơn tới Tòa án có thẩm quyền yêu cầu giải quyết các tranh chấp, các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh 1 Trường Đại học Luật TP.HCM, giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, tr 18. 1 doanh thương mại, lao động và được Tòa án thụ lý theo quy định của Luật tố tụng dân sự”1.
Theo như cách quy định của BLTTDS thì khái niệm vụ việc dân sự (hay các quan hệ dân sự) được hiểu theo nghĩa rộng. Tức là khái niệm vụ việc dân sự không chỉ bao gồm các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân, tài sản trong quan hệ dân sự mà còn trong các quan hệ hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Khái niệm “yếu tố nước ngoài” Khái niệm “yếu tố nước ngoài” trong pháp luật một số nước. Ở Pháp, khái niệm trên không được quy định rõ trong các văn bản pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng.
“Thực tiễn ở Pháp xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có yếu tố nước ngoài dựa vào hai căn cứ là căn cứ tiêu chuẩn kinh tế và pháp lý. Đối với tiêu chuẩn kinh tế được định nghĩa bởi ngài tổng kiểm soát trưởng Matter trong quyết định về vụ việc Pelissie du besset ngày 17 tháng 5 năm 1927 là hợp đồng tạo ra sự di chuyển qua lại biên giới các giá trị hàng hóa trao đổi tương ứng giữa hai quốc gia và thỏa thuận đó phải thể hiện quyền lợi của thương mại quốc tế. Đối với tiêu chuẩn pháp lý, một hợp đồng được coi là có tính chất quốc tế khi nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch, nơi cư trú của các bên, nơi ký kết hợp đồng, nơi thực hiện nghĩa vụ”2. Như vậy, ở Pháp sự tham gia của người nước ngoài không là yếu tố quyết định để cho rằng quan hệ (vụ việc) dân sự đó có yếu tố nước ngoài3.
Ở Mỹ không định nghĩa khái niệm này trong văn bản của mình nhưng vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thường được biết đến là các vụ việc có “yếu tố đa chủng” có nghĩa trong vụ việc có ít nhất công dân của hai bang trở lên hoặc một bên là người nước ngoài. Theo luật tố tụng dân sự Trung Quốc thì một vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài khi thỏa mãn một trong các căn cứ sau: (i) có ít nhất một trong các bên là người nước ngoài, người không quốc tịch, cơ quan tổ chức nước ngoài; (ii) những căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật giữa các bên xảy ra ở nước ngoài; (iii) đối tượng có liên quan đến vụ tranh chấp nằm ở nước ngoài4. Khái niệm yếu tố nước ngoài trong pháp luật Việt Nam 1 Trường Đại học Luật TP.HCM, giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, tr. 2 Nguyễn Gia Nam, khóa luận tốt nghiệp, thẩm quyền của Tòa án quốc gia đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nhìn từ góc độ so sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Liên Minh Châu Âu.
3 Đỗ Văn Đại, Mai Hồng Qùy, Tư pháp quốc tế Việt Nam, Nxb chính trị quốc gia, tr.edu/bc_org/avp/law/lwsch/journals/bciclr/25_1/02_TXT. 2 Theo pháp luật nước ta hiện nay chưa có văn bản quy định cụ thể về khái niệm “yếu tố nước ngoài” mà chỉ có quy định “vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài”1, “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài”2, “quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài”3, “quan hệ thương phiếu có yếu tố nước ngoài”4, “tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài”5. Theo quan điểm phổ biến hiện nay, yếu tố nước ngoài trong các quan hệ (hay vụ việc) dân sự thể hiện ở ba khía cạnh. Thứ nhất: yếu tố nước ngoài về mặt chủ thể được thể hiện trong trường hợp có ít nhất một trong các bên tham gia quan hệ là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Ví dụ quan hệ hôn nhân giữa ông A có quốc tịch Pháp kết hôn với bà B có quốc tịch Việt Nam. Thứ hai: yếu tố nước ngoài về mặt khách thể được thể hiện trong trường hợp tài sản liên quan đến quan hệ ở nước ngoài. Đây là các quan hệ phát sinh giữa công dân, tổ chức Việt Nam nhưng có tài sản ở nước ngoài. Ví dụ như công dân A (quốc tịch Việt Nam) cư trú và làm việc lâu dài tại Liên bang Nga, lập di chúc để lại tài sản của mình tại Liên bang Nga cho các con là B, C có quốc tịch Việt Nam, cư trú tại Việt Nam.
Trong quá trình phân chia tài sản thì B, C xảy ra tranh chấp. Đây là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài về mặt khách thể. Thứ ba: yếu tố nước ngoài về mặt sự kiện pháp lý được thể hiện khi sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ theo pháp luật nước ngoài hoặc phát sinh tại nước ngoài. Ví dụ A và B là công dân Việt Nam, được cơ quan nơi làm việc cử đi học tập tại Nga.
Tại đây A và B đã kết hôn với nhau tại cơ quan ngoại 1 Khoản 2 Điều 405 BLTTDS 2004: “vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự có ít nhất một trong các đương sự là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc các quan hệ dân sự giữa các đương sự là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. 2 Điêu 758 BLDS 2005: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. 3 Khoản 14 Điều 8 luật hôn nhân gia đình “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình: a) Giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; c) giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. 4 Khoản 14 Điều 3 Pháp lệnh thương phiếu 1999: “Quan hệ thương phiếu có yếu tố nước ngoài là quan hệ thương phiếu có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia với tư cách là người ký phát, người bị ký phát, người phát hành, người chuyển nhượng, người được chuyển nhượng, người bảo lãnh, người thụ hưởng”.
5 Khoản 4 Điều 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại “Tranh chấp có yếu tố nước ngoài là tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại mà một bên hoặc các bên là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ có tranh chấp phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến tranh chấp đó ở nước ngoài”. 3 giao của Việt Nam tại Nga. Đây là quan hệ giữa công dân Việt Nam với nhau nhưng phát sinh tại nước ngoài. Khái niệm vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.