Chương 1 LÝ LUẬN VE KIEM SÁT VIỆC TUẦN THEO PHAP LUẬT TRONG VIỆC ÁP DUNG BIEN PHÁP NGAN CHAN TẠM GIỮ, TẠM GIAM CUA VIEN KIEM SAT 1. Khái niệm, đặc điểm về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam của Viện kiểm sát Các BPNC là một trong những chế định pháp lý quan trọng có ý nghĩa to lớn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Hai trong số những BPNC có ý nghĩa quan trọng nhất đó là tạm giữ và tạm giam. Việc nhận thức thống nhất, đồng thời các quy định và áp dụng đúng đắn các BPNC nói chung hay BPNC tạm giữ, tạm giam nói riêng là bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của TTHS để phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kip thời mọi hành vi phạm tội, không dé lọt tội phạm, không làm oan người vô tỘI.
BPNC tạm giữ, tạm giam chứa đựng mục đích là ngăn chặn tội phạm, không dé người thực hiện hành vi phạm tội gây khó khăn cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và chấp hành bản án hình sự, đồng thời nó còn có tác động ảnh hưởng rat lớn đến quyên và nghĩa vụ của công dân”. BLTTHS năm 2015 mặc dù không đưa ra khái niệm về biện pháp ngăn chặn, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 109 BLTTHS năm 2015 thì: “ Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tô, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc dé bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thâm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thé áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khan cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cắm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuât cảnh.” 2 Dương Ngọc An (2012), “Một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao chật lượng công tác kiêm sát hoạt động bat, tạm giữ, tạm giam”, Tap chí Kiém sát, (14) + Tạm giữ được hiểu là biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã để cách ly họ với xã hội trong thời gian cần thiết nhằm ngăn chặn người đó tiếp tục phạm tội, cản trở điều tra và xác định sự liên quan của người này đôi với tội phạm. Cũng theo Điều 117 BLTTHS năm 2015 đối tượng bi tạm giữ là những người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp trên, người bị bắt đều bị tạm giữ mà tùy tính chất, mức độ của hành vi nguy hiểm cho xã hội hay về nhân thân của những người nay mà có thé bị tạm giữ hoặc không tạm giữ.
Trong trường hợp người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vẫn có thé bi tạm giữ khi có đủ căn cứ theo luật định nhưng chi trong các trường hợp phạm tội rất nghiêm trong do lỗi cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. + Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do những người có thâm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội trong các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định phạt tù trên 2 năm và có căn cứ cho răng người đó có thê trỗn hoặc cản trở việc điều tra, truy tô, xét xử hoặc có thé tiếp tục phạm tội. Có thể hiểu tạm giữ, tạm giam là những biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng nhằm buộc những người có Quyết định tạm giữ hoặc Lệnh tạm giam cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để ngăn chặn hành vi phạm tội, hành vi gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc đảm bảo thi hành án phat tù hoặc án tử hình. Như vậy có thé thấy, tạm giam không phải là hình phạt tù vì mục đích của tạm giam không những ngăn ngừa bị can, bị cáo phạm tội mới hoặc trôn tránh mà còn đảm bảo cho cơ quan tiên hành tô tụng điêu tra, truy 10 tô và xét xử bị cáo được chính xác, kip thời, bên cạnh đó cũng là biện pháp dé giúp dam bao thi hành án hình sự.
Biện pháp ngăn chặn là một loại biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự do các cơ quan, người có thâm quyên tiễn hành tô tụng ( Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) áp dụng đối với người bi bắt, người bi tạm giữ, bi can, bị cáo. khi các cơ quan, người có thâm quyên này có căn cứ cho răng những người này sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, giải quyết vụ án hình sự. Các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, gây tác động, ảnh hưởng nhất định đến các quyên và lợi ích của đương sự, thậm chí hạn chế một số quyên, hạn chế tự do. đối với người bị áp dụng.
Như vậy, ngoài mục dich chung, thống nhất là ngăn chặn không dé người bị buộc tội có điều kiện tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án thì ở mỗi giai đoạn t6 tung nhat dinh, viéc ap dung bién phap tam giữ, tạm giam còn có mục đích riêng nhằm bảo đảm thực hiện tốt chức năng tố tụng của cơ quan áp dụng. Việc tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội tạo điều kiện thuận lợi cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thé tiễn hành hoạt động thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can vào bất cứ khi nào nếu thấy cần thiết mà không phải triệu tập nhiều lần, đồng thời cũng giúp cho việc quản lý, giám sát bị can được chặt chẽ. Tính đến thời điểm hiện tại, chưa có một tài liệu nào đưa ra khái niệm chính thức về khái niệm “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam”, ngay cả các tài liệu giảng day hay học tập nghiên cứu của ngành kiêm sát. Tuy nhiên, có những quan điểm có nội dung dé cập gần với khái niệm này nhưng chưa đưa ra được khái niệm đầy đủ, khoa học chứa đựng được tất cả các đặc điểm, nội dung của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp tạm gitr, tạm giam.
Xuyên suốt lịch sử lập hiến nước ta từ Hiến pháp năm 1959, sau đó là Hiến pháp năm 1980, được cụ thé hóa trong các văn bản luật: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, Luật tô chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, Luật tô II chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 thì cụm từ “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” được sử dụng liên tục. Đến thời điểm năm 2001, đã xuất hiện cụm từ “kiểm sát các hoạt động tư pháp” - Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định: “Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) Tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. Điều | Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyên công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật”. Bộ luật Tổ tụng Hình sự năm 2003 lại tiếp tục sử dụng cụm từ “kiểm sát việc tuân theo pháp luật”.
Đến nay, Luật Hiến pháp năm 2013 vẫn sử dụng cụm từ “ kiểm sát hoạt động tư pháp” trong khi Bộ luật t6 tụng hình sự năm 2015 chỉ sử dung cum từ “kiểm sát việc tuân theo pháp luật?” còn Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014 lại sử dụng đồng thời cả 2 cụm từ trên. Như vậy, trong lĩnh vực t6 tụng hình sự, ton tại đồng thời hai thuật ngữ rất dé bị nhầm lẫn: “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” và “kiểm sát các hoạt động tư pháp”. Đề làm rõ khái niệm “kiểm sát việc tuân theo pháp luật”, trước hết, cần phân biệt với khái niệm “kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự”. Theo pháp luật TTHS Việt Nam, “tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiễn hành tô tụng, người tham gia tố tụng và cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội nhăm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật ”3 các hoạt động TTHS bao gồm: - Hoạt động của các cơ quan tiên hành tô tụng trong vụ án hình sự: là hoạt động của các cơ quan: Cơ quan điêu tra, Viện kiêm sát, Toà án.
Đây là các cơ quan có vai trò chủ đạo trong việc giải quyết các vụ án hình sự. > Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quôc gia, 2005 12 - Hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng được thực hiện thông qua hoạt động của người tiến hành tố tụng. Người tiến hành tố tụng là những công chức trong co quan tiến hành tố tụng, được bé nhiệm vào các chức danh tố tụng, có thẩm quyền thực hiện những hoạt động tố tụng nhất định trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó nhằm góp phan giải quyết vụ án hình sự. - Hoạt động của những người tham gia tố tụng: Bao gồm hoạt động của người tham gia t6 tụng dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (người bị tạm giữ, bi can, bi cáo, người bi hại, nguyên đơn dân sự, bi đơn dân sự, có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); hoạt động của người tham gia tố tụng dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; hoạt động của người tham gia t6 tụng nhằm giúp cơ quan tiến hành t6 tụng xác định sự thật vụ án (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch).