Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thực hành quyền công tố đối với vụ án hình sự 1. Khái niệm thực hành quyền công tố * Quyền công tố: Khái niệm quyền công tố từ lâu được các nhà khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu, có nhiều quan điểm nhận thức khác nhau về quyền công tố. Về thuật ngữ “công tố” là từ ghép Hán Việt, theo Đại từ điển tiếng Việt, “công” có nghĩa là “thuộc về Nhà nước, tập thể; trái với “tư”; còn “tố” có nghĩa là “nói về những sai phạm, tội lỗi của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều người”; “công tố” có nghĩa là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Toà án”.
Qua nghiên cứu các tài liệu hiện hành có thể thấy các quan điểm về quyền công tố như sau: Quan điểm thứ nhất: Công tố không phải là chức năng độc lập của VKS mà chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS. Quan điểm này đó đánh đồng quyền công tố với chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật của VKS, coi việc thực hiện quyền công tố chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Quan điểm này xuất phát từ chức năng của Viện kiểm sát nhân dân để xem xét quyền công tố. Theo đó, tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là THQCT.
Đây là quan điểm chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhà tố tụng hình sự và quan điểm về TTHS của Liên Xô trước đây. Quan điểm thứ hai: quyền công tố là quyền duy nhất của VKS thay mặt Nhà nước để bảo vệ lợi ích công khi có các vi phạm pháp luật. Quan điểm này cho 8 luan an rằng quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong tố tụng hình sự; cùng với sự phát triển của xã hội và các ngành luật thì quyền công tố được mở rộng sang các lĩnh vực kinh tế, dân sự, lao động. Quan điểm thứ ba: quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy tố người phạm tội ra trước Toà án và thực hiện việc buộc tội đó tại phiên toà sơ thẩm.
Quan điểm này lại thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm vi của quyền công tố và chỉ nhấn mạnh vai trò của VKS trong việc THQCT và được thực hiện trong tố tụng hình sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự. Quan điểm thứ tư: quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hỡnh sự hoặc đó là hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra, VKS, Tòa án trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội. Theo quan điểm này thì các cơ quan tiến hành tố tụng đều là chủ thể của quyền công tố, không có ranh giới rạch ròi giữa các chức năng cơ bản như điều tra, truy tố, xét xử trong tố tụng hình sự; xóa nhòa ranh giới giữa các chức năng buộc tội và chức năng xét xử trong tố tụng hình sự. Quan điểm thứ năm: quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Quyền này thuộc về Nhà nước, chỉ có trong tố tụng hình sự, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Đề làm được điều này, cơ quan THQCT (ở Việt Nam là VKSND) phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà. Theo quan điểm này thì quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm pháp luật mà luật hình sự coi là tội phạm.
Như vậy, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS. Ở nước ta, quyền này Nhà nước giao cho VKSND thực hiện. Quan điểm này phù hợp với pháp luật Việt Nam hiện hành. 9 luan an Từ các quan điểm trên, có thể hiểu: Quyền công tố là một dạng quyền năng pháp lý trong tố tụng hình sự, đó là quyền buộc tội mang tính Nhà nước được trao cho Viện kiểm sát thực hiện, nhằm buộc tội đối với cá nhân hoặc pháp nhân khi có căn cứ cho rằng các chủ thể này đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, quyền buộc tội này hướng tới việc truy tố ra trước Tòa án để xét xử và buộc tội công khai trước phiên tòa - Đặc điểm quyền công tố Thứ nhất, quyền công tố là quyền của Nhà nước mang bản chất chính trị của Nhà nước, nhân danh Nhà nước để buộc tội đối với người (theo nghĩa rộng, bao gồm người có năng lực trách nhiệm hình sự và pháp nhân thương mại) thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự.
THQCT có mục đích rõ ràng là bảo vệ lợi ích của Nhà nước, môi trường tồn tại của Nhà nước. Thứ hai, quyền công tố không thể tách rời mà luôn gắn liền với quyền tài phán của Toà án, đó chính là quyền cáo buộc hành vi vi phạm pháp luật hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội và đưa người phạm tội ra Toà án theo đó là bảo vệ sự buộc tội trước phiên toà. Quyền công tố không đồng nhất với việc cứ nhất thiết mọi trường hợp phải đưa người phạm tội ra Toà an, mà trên thực tế có trường hợp quyền công tố có thể được chấm dứt khi đối tượng tác động của nó đã đủ căn cứ để chấm dứt như ở các trường hợp người phạm tội được đình chỉ điều tra theo quy định tại Điều 248 BLTTHS; Điều 29 của BLHS. Thứ ba, quyền công tố chỉ có thể do một cơ quan Nhà nước thực hiện và độc lập với quyền tài phán của Toà án và ở nước ta cơ quan thực hiện quyền này là hệ thống VKS nhân dân (bao gồm cả Viện kiểm sát quân sự trong đó).
Quyền công tố được hệ thống VKS nhân dân thực hiện trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự từ khi tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố vụ án, điều tra, truy tố, xét xử. 10 luan an Thứ tư, Quá trình nghiên cứu lịch sử nhà nước pháp luật nói chung, lịch sử nhà nước pháp luật Việt Nam nói riêng chúng ta thấy rằng quyền công tố luôn gắn liền với bản chất của Nhà nước, gắn với cách thức tổ chức quyền lực nhà nước ở mỗi quốc gia và mô hình tố tụng. Quan điểm của Nhà nước ta về thực hiện chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã xác định: VKSND có hai chức năng cơ bản là thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp (Điều 107 Hiến pháp năm 2013, Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm 2014); Về quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Đại hội lần thức IX của Đảng đã chỉ rõ “VKS tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; Nghị quyết số 49 NQ/TW của Bộ chính trị khóa IX về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nhấn mạnh: “Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”. - Đối tượng của quyền công tố: Đối tượng của quyền công tố là cái mà quyền công tố tác động vào, cụ thể là xác định được hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi phạm tội để trừng phạt, nhằm bảo đảm trật tự xã hội và trật tự pháp luật, bảo đảm lợi ích chung cho xã hội.
Như vậy, đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội. - Nội dung của quyền công tố: Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội; còn việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý do pháp luật định nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội không làm oan người vô tội là nội dung của hoạt động THQCT. - Phạm vi của quyền công tố: Quyền công tố là quyền của Nhà nước truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Việc truy cứu TNHS diễn ra cả quá trình từ khi phát hiện tội phạm, 11 luan an khởi tố, điều tra, truy tố, và buộc tội tại phiên tòa.
Vì vậy, quyền công tố không thể tồn tại ở lĩnh vực nào khác ngoài lĩnh vực tố tụng hình sự; phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi phát hiện dấu hiệu của tội phạm và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị, tức là quyền công tố kết thúc khi việc buộc tội không còn nữa. * Thực hành quyền công tố: Xuất phát từ nhận thức quyền công tố là quyền của nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị. Đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội.
Để đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền công tố, Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố. Các quyền năng này được giao cho cơ quan Nhà nước nào thì cơ quan đó là cơ quan có trách nhiệm THQCT. Ở nước ta theo quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức VKSND, Luật TTHS thì cơ quan được Nhà nước giao THQCT là VKSND. Pháp luật cũng quy định quyền năng pháp lý cần thiết để VKS thực hiện quyền năng của mình trong các giai đoạn tố tụng hình sự, như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, yêu cầu điều tra, trực tiếp điều tra, áp dụng, thay đổi biện pháp ngăn chặn, quyết định truy tố, đọc cáo trạng, tranh tụng tại phiên tòa…Việc sử dụng quyền năng pháp lý của VKS như nêu trên để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội gọi là THQCT.