Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Tham gia vụ tranh chấp với tư cách là bên thứ ba tại các thiết chế tài phán quốc tế" do nghiên cứu sinh Vũ Quốc Khánh thực hiện tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2021), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Bá Diến và TS. Mai Hải Đăng, thuộc chuyên ngành Luật Quốc tế (mã số 9380101.06).

Về tính cấp thiết, tác giả luận án xác định trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế theo tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, việc gia nhập các tổ chức quốc tế và ký kết điều ước quốc tế làm nảy sinh các bất đồng, tranh chấp giữa các chủ thể của công pháp quốc tế. Bên cạnh hai tư cách truyền thống là nguyên đơn (Plaintiff) và bị đơn (Defendant), việc tham gia vụ tranh chấp với tư cách bên thứ ba (Third party) là phương thức pháp lý để các quốc gia có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Thực tiễn cho thấy Việt Nam đối mặt với khả năng tham gia vào các tranh chấp kinh tế, thương mại quốc tế cũng như các tranh chấp phức tạp tại Biển Đông. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: cho đến thời điểm thực hiện đề tài, khoa học pháp lý trong nước và quốc tế chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đồng bộ cả về cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực tiễn tham gia tố tụng với tư cách bên thứ ba tại các thiết chế tài phán quốc tế để làm căn cứ tham chiếu cho Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý và thực tiễn tham gia vụ tranh chấp với tư cách bên thứ ba tại các thiết chế tài phán quốc tế; từ đó đề xuất định hướng, giải pháp nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam.

Về nhiệm vụ nghiên cứu, văn bản xác định cụ thể các nội dung sau:

  • Làm rõ những vấn đề lý luận về tranh chấp quốc tế, giải quyết tranh chấp quốc tế, thiết chế tài phán quốc tế và bên thứ ba trong tranh chấp quốc tế.
  • Nghiên cứu cơ sở pháp lý điều chỉnh việc tham gia với tư cách bên thứ ba tại một số thiết chế tài phán quốc tế điển hình.
  • Nghiên cứu thực tiễn và kinh nghiệm tham gia của một số thành viên và Việt Nam với tư cách bên thứ ba tại các thiết chế này.
  • Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế của Việt Nam.
  • Đề xuất kiến nghị đối với một số thiết chế tài phán quốc tế nhằm tăng cường hiệu quả tham gia của bên thứ ba.
  • Đề xuất, kiến nghị giải pháp đối với Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả tham gia với tư cách bên thứ ba trước các thiết chế tài phán quốc tế.

Luận án đặt ra bốn câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Hiện nay đã xây dựng được một cơ sở lý luận tổng quan về vấn đề tham gia cơ chế giải quyết tranh chấp với tư cách là bên thứ ba tại các thiết chế tài phán quốc tế hay chưa? Những vấn đề lý luận gồm các nội dung cụ thể nào có liên quan đến cơ sở lý luận việc tham gia giải quyết tranh chấp với tư cách là bên thứ ba?
  2. Hình thức tham gia bên thứ ba được hình thành như thế nào và nó có mối quan hệ như thế nào với các bên tranh chấp trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế? Đặc điểm, ý nghĩa, mục đích của bên thứ ba như thế nào trong quá trình tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế? Tham gia với tư cách bên thứ ba có những điểm tương đồng hay khác biệt như thế nào khi so sánh với những hình thức tham gia khác trong giải quyết tranh chấp quốc tế?
  3. Những cơ sở pháp lý nào quy định về việc tham gia với tư cách bên thứ ba trong giải quyết tranh chấp tại các thiết chế tài phán quốc tế? Những nội dung và thực tiễn áp dụng những quy định điều chỉnh việc tham gia với tư cách bên thứ ba vào các thiết chế tài phán quốc tế là gì?
  4. Vấn đề tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế với tư cách bên thứ ba có phải là một hướng đi đúng đắn, thiết thực và phù hợp với tình hình và điều kiện của Việt Nam trong bối cảnh thế giới đang diễn ra nhiều các tranh chấp quốc tế mà Việt Nam sẽ phải đối mặt để giải quyết trong tương lai không xa? Những giải pháp nào nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả đối với Việt Nam tham gia với tư cách là bên thứ ba trong quá trình giải quyết tranh chấp tại các thiết chế tài phán quốc tế?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là việc tham gia vụ tranh chấp với tư cách là bên thứ ba tại các thiết chế tài phán quốc tế. Phạm vi nghiên cứu được tác giả giới hạn theo năm tiêu chí:

  • Về chủ thể: Tập trung vào chủ thể là các quốc gia và vùng lãnh thổ thuế quan riêng biệt có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tham gia với tư cách bên thứ ba, loại trừ việc nghiên cứu sâu bên thứ ba với vai trò trung gian, hòa giải viên, trọng tài viên hay người làm chứng.
  • Về nội dung tranh chấp: Giới hạn ở hai nhóm tranh chấp chủ yếu gồm tranh chấp kinh tế, thương mại quốc tế và tranh chấp biên giới, lãnh thổ, biển đảo.
  • Về thiết chế tài phán: Tập trung vào các thiết chế tài phán quốc tế có quy định cụ thể về bên thứ ba gồm Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), Tòa án quốc tế về Luật biển (ITLOS), Cơ quan giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại Thế giới (DSB của WTO), Cơ quan giải quyết tranh chấp của ASEAN (SEOM) và có dẫn chiếu Tòa Trọng tài thường trực (PCA).
  • Về thực tiễn: Khảo sát thực tiễn tham gia của một số quốc gia thành viên và thực tiễn của Việt Nam tại các thiết chế tài phán nêu trên.
  • Về khuôn khổ: Nghiên cứu tuân thủ các quy định về độ dài và giới hạn học thuật của Đại học Quốc gia Hà Nội.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành ba nhóm chính:

Đối với các nghiên cứu ở nước ngoài:

  • Nhóm 1 nghiên cứu về tranh chấp và giải quyết tranh chấp quốc tế: Bao gồm luận án tiến sĩ của Kil Won Lee (2011) tại Đại học Illinois; cẩm nang của WTO (2004); tài liệu của UNCTAD (2003); công trình của Gregory Shaffer và Ricardo Meléndez-Ortiz (2011) do Nhà xuất bản Đại học Cambridge ấn hành; sách của Nicolas Sunday (2013); Leslie Johns (2015) do Nhà xuất bản Đại học Michigan ấn hành; bài báo của Áslaug Ásgeirsdóttir và Martin Steinwand (2015); Eric De Brabandere (2016); Richard B. Bilder (1986, 1991); Makane Moïse Mbengue (2015).
  • Nhóm 2 nghiên cứu về các thiết chế tài phán quốc tế: Bao gồm luận án tiến sĩ của Mohamed Sameh Ahmed Mohamed (1997) tại Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị Luân Đôn (LSE); sách của Craig VanGrasstek (2013); Robert Kolb (2013); báo cáo của Peter Sutherland và cộng sự (2004); các nghiên cứu của Tim Stephens (2015); Valentina Delich và Alberto Torres (2012); Serena Forlati (2014); Chiara Giorgetti (2017); Malcolm Pryles, Jeff Waincymer và Martin Davies (2003); Julio Faundez và Celine Tan (2010); Stephen M. Schwebel (1987); Ruth Mackenzie và Philippe Sands (2003); Michael Gilligan, Leslie Johns và B. Peter Rosendorff (2010); John H. Jackson (2000); Michael M. Bechtel và Thomas Sattler (2015); Maksymov (2015).
  • Nhóm 3 nghiên cứu về bên thứ ba trong giải quyết tranh chấp quốc tế: Bao gồm luận án của James Gerard (2014) tại Viện Đại học Châu Âu (EUI); luận văn thạc sĩ của Taehyung Im (2004) tại Đại học Georgia; luận văn của Assel Kazbekova (2013) tại Đại học Toronto; chuyên khảo của Christine Chinkin (1993); các nghiên cứu của Muniruzzaman (2011); Antonios Antoniadis (2002); Chi Carmody (1996-1997); Nick Covelli và Rajeev Sharma (2003); Nick Covelli (1999); Fernando Piérola (2007); D. Yenkong (2005); Allan Rosas (2000); Rudiger Wolfrum (2001, 2013); Al-Quahatani (2003); Leslie Johns và Krzysztof J. Pelc (2016); Marc L. Busch và Eric Reinhardt (2006); Xiaoming Pan (2011); Henry Gao (2006); Lauren Konken (2018); Paolo Palchetti (2002).

Đối với các nghiên cứu trong nước:

  • Nhóm 1 về tranh chấp quốc tế và giải quyết tranh chấp: Đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội của Nguyễn Bá Diến (2013); luận án tiến sĩ của Nguyễn Hùng Cường (2017); các bài báo khoa học của Nguyễn Bá Diến (2015); Phan Thảo Nguyên (2002).
  • Nhóm 2 về cơ chế giải quyết tranh chấp của các thiết chế tài phán quốc tế: Luận án tiến sĩ của Bùi Anh Thủy (2008) về WTO; sách chuyên khảo của Nguyễn Hồng Thao (2011) về ICJ; các bài viết của Nguyễn Bá Diến và Nguyễn Hùng Cường (2009); Nguyễn Hồng Thao (2011); Nguyễn Tiến Vinh (2013).
  • Nhóm 3 về bên thứ ba và các hình thức tham gia tố tụng: Luận văn thạc sĩ của chính tác giả Vũ Quốc Khánh (2016); các bài viết của Nguyễn Tiến Vinh (2011, 2012); Phạm Vũ Thắng (2013); Trần Việt Dũng (2013); Nguyễn Thị Thanh Hải (2018); cùng hệ thống giáo trình của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2013, 2014) và Trường Đại học Luật Hà Nội (2017).

Về khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết, tác giả chỉ rõ năm điểm còn tồn tại trong y văn:

  1. Các công trình trước đây chưa nghiên cứu toàn diện các vấn đề lý luận về tranh chấp quốc tế dưới góc độ là tiền đề phát sinh sự tham gia của bên thứ ba.
  2. Chưa tiếp cận và làm sáng tỏ một cách triệt để các vấn đề lý luận về bên thứ ba, bao gồm khái niệm, đặc điểm, địa vị pháp lý, cũng như phân định rõ ràng giữa bên thứ ba có quyền lợi liên quan với các hình thức tham gia tố tụng khác.
  3. Chưa đi sâu làm rõ lý luận tổng quan về thiết chế tài phán quốc tế (khái niệm, đặc điểm, phân loại thiết chế).
  4. Chưa phân tích hệ thống và đồng bộ cơ sở pháp lý quy định quyền và nghĩa vụ của bên thứ ba tại các thiết chế tài phán quốc tế chủ chốt.
  5. Chưa phân tích sâu sắc thực tiễn tham gia của các quốc gia và Việt Nam qua các vụ việc cụ thể để đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị ứng dụng thực tế.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, luận án tiếp cận hệ thống khái niệm nền tảng của luật quốc tế:

  • Tranh chấp quốc tế: Tác giả dẫn chiếu định nghĩa từ từ điển Black’s Law Dictionary; phán quyết ngày 30/8/1924 của Tòa Thường trực Công lý quốc tế (PCIJ) trong vụ Mavrommatis Palestine Concessions ("Tranh chấp là một sự bất đồng về một vấn đề pháp lý hay thực tế, một sự xung đột về quan điểm pháp lý hoặc lợi ích giữa hai bên"); khoản 3 Điều 2 và khoản 1 Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc; khoản 2 Điều 36 Quy chế Tòa án Công lý quốc tế (ICJ); quan điểm của Richard B. Bilder. Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa: "Tranh chấp quốc tế là những vấn đề mâu thuẫn phát sinh giữa các chủ thể của công pháp quốc tế được thể hiện thông qua những bất đồng, xung đột về lợi ích cũng như các ý kiến, quan điểm khác nhau bằng những hình thức cụ thể trong việc giải thích và áp dụng pháp luật quốc tế".
  • Thiết chế tài phán quốc tế: Được xác định dựa trên Điều 92 Hiến chương Liên hợp quốc, Từ điển Tiếng Việt, cùng quan điểm của các học giả Nguyễn Thị Thuận, Nguyễn Thị Thanh Hải, Chiara Giorgetti, Nguyễn Tiến Vinh. Thiết chế tài phán quốc tế là cơ quan quốc tế được thành lập theo sự thỏa thuận của các quốc gia nhằm thực hiện chức năng xét xử và giải quyết tranh chấp thông qua việc áp dụng pháp luật quốc tế, ban hành phán quyết có giá trị ràng buộc.
  • Phân loại và nguyên tắc: Luận án phân loại tranh chấp theo chủ thể, số lượng chủ thể, và đối tượng tranh chấp; phân tích nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế căn cứ Tuyên bố ngày 24/10/1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc; phân định các nhóm biện pháp hòa bình gồm: phi tài phán (đàm phán, môi giới, trung gian, ủy ban điều tra, ủy ban hòa giải theo các Công ước La Haye năm 1899 và 1907), tài phán (tòa án, trọng tài), và giải quyết thông qua cơ chế của các tổ chức quốc tế (WTO, ASEAN).

Về phương pháp nghiên cứu, luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, lý luận chung về nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về hội nhập quốc tế. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được phân bổ theo từng chương:

  • Chương 1: Sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê, phân tích, quy nạp và diễn dịch để tổng hợp và đánh giá tình hình nghiên cứu.
  • Chương 2: Vận dụng phương pháp lý luận, lịch sử, phân tích, so sánh, quy nạp và diễn dịch để làm rõ khung khái niệm và nền tảng lý luận.
  • Chương 3: Sử dụng phương pháp tổng hợp, thống kê, nghiên cứu tình huống điển hình (case study), phân tích, so sánh để đánh giá thực tiễn tố tụng.
  • Chương 4: Sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, diễn dịch nhằm đúc kết bài học kinh nghiệm và xây dựng kiến nghị.

Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm các điều ước quốc tế đa phương (Hiến chương Liên hợp quốc, Quy chế ICJ, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 - UNCLOS, Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp của WTO - DSU, các hiệp định của WTO như GATT, SPS, TBT, SCM, AD), các văn kiện của ASEAN, báo cáo giải quyết tranh chấp của Ban Hội thẩm (Panel) và Cơ quan Phúc thẩm (AB) của WTO, các phán quyết của ICJ, ITLOS và Tòa Trọng tài Phụ lục VII UNCLOS (vụ kiện Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án

Chương này tập trung rà soát có hệ thống các tài liệu học thuật trong nước và quốc tế liên quan đến tranh chấp quốc tế, các thiết chế tài phán quốc tế và quyền của bên thứ ba. Tác giả phân chia tài liệu nước ngoài thành ba nhóm và tài liệu trong nước thành ba nhóm tương ứng.

Nội dung chương khẳng định rằng các công trình hiện có chỉ nghiên cứu phân tán từng khía cạnh tố tụng hoặc khảo sát riêng lẻ trong khuôn khổ một tổ chức đơn lẻ (như cơ chế DSU của WTO hoặc Điều 62, 63 Quy chế ICJ). Chưa có công trình nào tổng kết một cách chỉnh thể khung lý luận và thực tiễn về vị thế của bên thứ ba qua nhiều thiết chế tài phán quốc tế khác nhau dưới góc nhìn của một quốc gia đang phát triển. Chương này xác định các nội dung mà luận án kế thừa (cơ cấu tổ chức của các thiết chế, thủ tục tố tụng, các án lệ tiêu biểu) và xác lập bốn câu hỏi nghiên cứu làm kim chỉ nam cho các chương tiếp theo.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về việc tham gia vụ tranh chấp với tư cách là bên thứ ba tại các thiết chế tài phán quốc tế

Chương 2 thiết lập khung lý thuyết cho toàn bộ đề tài:

  • Phân tích khái niệm tranh chấp quốc tế, khẳng định bản chất tranh chấp xuất phát từ xung đột về quan điểm pháp lý và lợi ích trong việc giải thích, áp dụng pháp luật quốc tế giữa các chủ thể.
  • Hệ thống hóa các nguyên tắc giải quyết tranh chấp, đặc biệt là nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp theo Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên bố năm 1970; phân loại chi tiết các biện pháp phi tài phán (đàm phán, môi giới, trung gian, ủy ban điều tra, ủy ban hòa giải) và biện pháp tài phán.
  • Phân tích tổng quan về thiết chế tài phán quốc tế: khái niệm, đặc điểm (tính độc lập, thẩm quyền dựa trên sự đồng thuận của các quốc gia, giá trị pháp lý bắt buộc của phán quyết) và phân loại thiết chế.
  • Luận giải cơ sở lý luận về việc tham gia với tư cách bên thứ ba: xác định khái niệm bên thứ ba là chủ thể luật quốc tế không phải nguyên đơn hay bị đơn nhưng có quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý chịu tác động bởi vụ tranh chấp; làm rõ địa vị pháp lý, quyền tiếp cận hồ sơ, quyền đệ trình ý kiến văn bản, quyền tham gia phiên điều trần; phân tích ý nghĩa tham gia nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ tính thống nhất của luật pháp quốc tế và tích lũy kinh nghiệm tố tụng.
  • Phân định rõ ràng hình thức tham gia của bên thứ ba với các tư cách khác:
Tiêu chí Bên thứ ba (Third party) Bên can thiệp (Intervening party) Bạn của tòa án (Amicus Curiae)
Bản chất chủ thể Quốc gia, vùng lãnh thổ thuế quan có quyền lợi pháp lý liên quan Quốc gia thành viên của quy chế hoặc điều ước quốc tế liên quan Cá nhân, tổ chức phi chính phủ (NGO), chuyên gia
Quyền lợi liên quan Có lợi ích pháp lý hoặc lợi ích thương mại đáng kể (substantial interest) Có lợi ích pháp lý bị ảnh hưởng bởi phán quyết (như Điều 62 Quy chế ICJ) Không yêu cầu quyền lợi trực tiếp; chỉ cung cấp góc nhìn chuyên môn
Quyền tố tụng Được nhận đệ trình, tham gia phiên điều trần, gửi văn bản lập luận Trở thành một bên trong tố tụng hoặc gửi quan điểm giải thích điều ước Tòa án/Ban hội thẩm toàn quyền chấp nhận hoặc bác bỏ việc xem xét đệ trình
Giá trị phán quyết Phán quyết ràng buộc trực tiếp hai bên tranh chấp chính; gián tiếp tác động giải thích pháp luật Có thể bị ràng buộc bởi phán quyết nếu can thiệp với tư cách một bên Hoàn toàn không bị ràng buộc và không phải là một bên trong tranh chấp
  • Khảo sát lịch sử hình thành và phát triển của chế định bên thứ ba từ các cơ chế trọng tài thế kỷ XIX - XX đến các cơ chế tài phán quốc tế đa phương hiện đại.

Chương 3: Cơ sở pháp lý và thực tiễn tham gia vụ tranh chấp với tư cách bên thứ ba tại các thiết chế tài phán quốc tế

Chương này đi sâu nghiên cứu các quy định thực định và án lệ thực tế tại các thiết chế tài phán được lựa chọn:

  • Về cơ sở pháp lý:
    • Tại WTO: Phân tích Điều 10 của DSU (quyền của bên thứ ba trước Ban Hội thẩm khi có lợi ích đáng kể - substantial interest) và Điều 17.4 của DSU (quyền của bên thứ ba trong thủ tục phúc thẩm trước Cơ quan Phúc thẩm - AB).
    • Tại ICJ: Phân tích Điều 62 (can thiệp khi có lợi ích pháp lý có thể bị ảnh hưởng bởi phán quyết) và Điều 63 Quy chế Tòa án (can thiệp khi tranh chấp liên quan đến việc giải thích điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên).
    • Tại ITLOS: Phân tích Điều 31 và Điều 32 Quy chế Tòa án quốc tế về Luật biển (tương tự như cơ chế can thiệp tại ICJ).
    • Tại ASEAN: Phân tích cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua SEOM và Nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN.
  • Về thực tiễn tham gia:
    • Đánh giá thực tiễn của các thành viên WTO: Phân tích mô hình tham gia của bên thứ ba qua các giai đoạn tham vấn, giải quyết tại Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm; chỉ ra xu hướng gia tăng số lượng các quốc gia đang phát triển tham gia bên thứ ba để bảo vệ thị phần xuất khẩu và học hỏi kỹ năng tranh tụng.
    • Đánh giá thực tiễn tại ICJ: Khảo sát các vụ can thiệp tố tụng điển hình, trong đó có vụ việc liên quan đến Guinea Xích Đạo, làm rõ các tiêu chí khắt khe mà ICJ áp dụng khi xem xét đơn xin tham gia.
    • Đánh giá thực tiễn tham gia của Việt Nam:
      • Tại WTO: Phân tích số liệu và các vụ việc Việt Nam tham gia với tư cách bên thứ ba (được tổng hợp tại Biểu đồ số vụ tham gia của Việt Nam tại Cơ quan giải quyết tranh chấp WTO - Hình 3.2 trong văn bản), tập trung vào các tranh chấp liên quan đến các biện pháp phòng vệ thương mại như chống bán phá giá (AD), trợ cấp (SCM), và tự vệ (SG).
      • Tại vụ kiện Biển Đông: Phân tích việc Việt Nam gửi Tuyên bố ngày 05/12/2014 tới Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII UNCLOS trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc ("The South China Sea Arbitration"). Tác giả phân tích nội dung Tuyên bố của Việt Nam nhằm khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bảo vệ quyền và lợi ích pháp lý của Việt Nam tại các vùng biển theo UNCLOS 1982, bác bỏ yêu sách "đường chín đoạn" của Trung Quốc, đồng thời khẳng định sự ủng hộ đối với thủ tục tài phán hòa bình.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả tham gia vụ tranh chấp với tư cách bên thứ ba tại các thiết chế tài phán quốc tế

Chương cuối cùng đề xuất các định hướng và giải pháp thực thi xuất phát từ bài học kinh nghiệm quốc tế và bối cảnh Việt Nam:

  • Các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
    • Xây dựng và sử dụng nguồn nhân lực chuyên trách có trình độ chuyên sâu về luật quốc tế và tố tụng quốc tế.
    • Tận dụng tối đa hỗ trợ pháp lý từ các tổ chức chuyên môn quốc tế, tiêu biểu là Trung tâm Tư vấn Luật WTO (ACWL).
    • Chủ động tham gia ngay từ các giai đoạn đầu của tiến trình giải quyết tranh chấp (ngay từ khâu tham vấn và thành lập Ban Hội thẩm).
    • Phát huy vai trò kết nối giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tranh chấp.
  • Các nhóm giải pháp và kiến nghị cụ thể:
    • Đối với Quốc hội và Chính phủ: Hoàn thiện hành lang pháp lý trong nước về việc tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế; thành lập ban/tổ công tác chuyên trách liên bộ; phân bổ ngân sách phù hợp cho hoạt động tố tụng; nâng cao năng lực cho Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế (NASCIN); xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Bộ Công Thương.
    • Đối với các doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề: Chủ động theo dõi chính sách thương mại quốc tế; thành lập quỹ tài chính nội bộ ngành để sẵn sàng hỗ trợ pháp lý; phối hợp chặt chẽ với cơ quan đại diện nhà nước trong việc cung cấp số liệu thực tế chứng minh lợi ích thương mại đáng kể khi tham gia bên thứ ba.
    • Đối với các tổ chức phi chính phủ và mạng lưới chuyên gia: Xây dựng cơ chế tham vấn học thuật, huy động đội ngũ luật sư, chuyên gia pháp lý quốc tế tham gia tư vấn và hỗ trợ lập luận pháp lý cho các cơ quan nhà nước.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác lập những đóng góp mới về phương diện lý luận và thực tiễn:

Về mặt lý luận:

  • Bổ sung và hệ thống hóa khung lý luận về việc tham gia vụ tranh chấp với tư cách bên thứ ba tại các thiết chế tài phán quốc tế, gắn liền lý luận về bên thứ ba với bản chất của tranh chấp quốc tế.
  • Làm rõ cơ sở pháp lý quy định quyền và nghĩa vụ của bên thứ ba trong các điều ước quốc tế nền tảng (DSU của WTO, Quy chế ICJ, Quy chế ITLOS, quy chế ASEAN).
  • Phân tích, so sánh rành mạch địa vị pháp lý, bản chất và mức độ can thiệp tố tụng của bên thứ ba với tư cách nguyên đơn, bị đơn, bên can thiệp và amicus curiae, thiết lập hệ thống tiêu chí nhận diện rõ ràng.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh tổng quát về thực tiễn tham gia tố tụng của các quốc gia và Việt Nam tại các thiết chế tài phán quốc tế lớn, đặc biệt là tại WTO và vụ kiện Biển Đông.
  • Đánh giá năng lực sẵn sàng của Việt Nam trong việc sử dụng cơ chế tài phán quốc tế; chỉ ra rằng việc tham gia với tư cách bên thứ ba là phương thức diễn tập pháp lý cần thiết để rèn luyện đội ngũ, chuẩn bị cho việc tham gia với tư cách nguyên đơn hoặc bị đơn trong tương lai.
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực, hợp tác quốc tế (ACWL), đến cơ chế phối hợp công - tư giữa nhà nước, hiệp hội và doanh nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án tự xác định các giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và quy định khuôn khổ văn bản:

  • Luận án chỉ tập trung vào các chủ thể là quốc gia và vùng lãnh thổ thuế quan riêng biệt, không đi sâu nghiên cứu quyền tham gia của các tổ chức quốc tế hoặc các chủ thể phi nhà nước độc lập.
  • Giới hạn nội dung vào hai nhóm tranh chấp chính là kinh tế - thương mại và biên giới, lãnh thổ, biển đảo; không mở rộng ra toàn bộ các dạng tranh chấp quốc tế khác.
  • Giới hạn thiết chế nghiên cứu tại bốn thiết chế tài phán chủ chốt (WTO, ICJ, ITLOS, ASEAN/PCA), chưa đi sâu phân tích cơ chế bên thứ ba tại các thiết chế tài phán nhân quyền khu vực (như Tòa án Nhân quyền Châu Âu - ECTHR, Tòa án Nhân quyền Liên Mỹ - IACHR, Tòa án Nhân quyền Châu Phi - ACHPR) hoặc thiết chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (như Trung tâm Quốc tế về Giải quyết Tranh chấp Đầu tư - ICSID).

Về hướng nghiên cứu tiếp, từ các khoảng trống và phạm vi trên, các hướng nghiên cứu có thể tiếp tục phát triển bao gồm:

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế bên thứ ba và sự tham gia của các chủ thể không phải là một bên tranh chấp trong các vụ kiện đầu tư quốc tế giữa nhà đầu tư và nhà nước (cơ chế ISDS theo ICSID hoặc UNCITRAL).
  • Đánh giá cơ chế giải quyết tranh chấp và quyền của bên thứ ba trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam tham gia như CPTPP và EVFTA.
  • Nghiên cứu sâu hơn về quy chế pháp lý và tác động thực tế của các đệ trình amicus curiae của các tổ chức phi chính phủ và các thực thể phi nhà nước tại các tòa án quốc tế.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị ứng dụng cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Quốc tế, Luật Thương mại Quốc tế tại các cơ sở đào tạo luật: có thể sử dụng khung lý luận tại Chương 2 và các phân tích so sánh tại Chương 3 làm tài liệu nghiên cứu và giảng dạy.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước: Các đơn vị chuyên trách thuộc Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương, và Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế (NASCIN) có thể tham chiếu các khuyến nghị tại Chương 4 để hoàn thiện quy trình thủ tục tham gia tố tụng quốc tế, xây dựng chiến lược bảo vệ quyền lợi quốc gia trong các tranh chấp thương mại và chủ quyền biển đảo.
  • Các luật sư, chuyên gia tư vấn pháp lý, hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp xuất nhập khẩu: có thể tham khảo phần phân tích cơ chế DSU của WTO tại Chương 3 để chủ động nhận diện rủi ro pháp lý, đề xuất nhà nước tham gia với tư cách bên thứ ba nhằm bảo vệ thị trường xuất khẩu.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tác giả luận án định nghĩa "tranh chấp quốc tế" như thế nào? Theo tác giả, tranh chấp quốc tế là những vấn đề mâu thuẫn phát sinh giữa các chủ thể của công pháp quốc tế được thể hiện thông qua những bất đồng, xung đột về lợi ích cũng như các ý kiến, quan điểm khác nhau bằng những hình thức cụ thể trong việc giải thích và áp dụng pháp luật quốc tế.

  2. Điều kiện để một quốc gia tham gia với tư cách bên thứ ba tại Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB) là gì? Căn cứ Điều 10 của DSU, thành viên WTO muốn tham gia với tư cách bên thứ ba trước Ban Hội thẩm phải chứng minh có "lợi ích đáng kể" (substantial interest) liên quan đến vấn đề đang tranh chấp và thông báo cho DSB cũng như các bên tranh chấp chính.

  3. Điểm khác biệt căn bản giữa bên thứ ba và bạn của tòa án (amicus curiae) trong luận án là gì? Bên thứ ba theo luận án là các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ thuế quan có quyền lợi, nghĩa vụ pháp lý liên quan và được luật thực định trao các quyền tố tụng chính thức (như nhận tài liệu đệ trình, phát biểu tại phiên xử). Trong khi đó, amicus curiae là các chủ thể phi nhà nước (cá nhân, viện nghiên cứu, tổ chức phi chính phủ) không có quyền lợi trực tiếp trong vụ kiện, chỉ đệ trình ý kiến mang tính tư vấn chuyên môn và việc xem xét hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự chấp thuận của cơ quan tài phán.

  4. Việt Nam đã thể hiện vai trò bên thứ ba như thế nào trong vụ kiện Biển Đông năm 2014? Trong vụ kiện Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc tại Tòa Trọng tài Phụ lục VII UNCLOS, Việt Nam đã gửi Tuyên bố ngày 05/12/2014 tới Tòa Trọng tài nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích pháp lý của mình tại Biển Đông, khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bác bỏ yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc, đồng thời bảo lưu quyền can thiệp pháp lý với tư cách bên thứ ba có quyền lợi liên quan.

  5. Luận án đề xuất giải pháp gì về việc sử dụng hỗ trợ pháp lý quốc tế cho Việt Nam? Luận án đề xuất Việt Nam cần tận dụng có hiệu quả sự hỗ trợ pháp lý từ Trung tâm Tư vấn Luật WTO (ACWL) - tổ chức chuyên hỗ trợ pháp lý với chi phí ưu đãi cho các nước đang phát triển trong việc chuẩn bị lập luận, đệ trình hồ sơ và tham gia tranh tụng tại các thiết chế tài phán thương mại.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Quốc Khánh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về việc tham gia vụ tranh chấp với tư cách bên thứ ba tại các thiết chế tài phán quốc tế như WTO, ICJ, ITLOS và ASEAN. Thông qua việc phân tích thực tiễn các vụ việc điển hình và hoạt động tố tụng của Việt Nam, công trình làm rõ vai trò của bên thứ ba như một công cụ pháp lý bảo vệ quyền lợi quốc gia và tích lũy năng lực tố tụng. Các phương hướng, giải pháp được đề xuất trong luận án mang tính toàn diện từ hoàn thiện thể chế, xây dựng nhân lực chuyên trách đến cơ chế phối hợp công - tư, cung cấp luận cứ khoa học hữu ích cho tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.