Tổng quan về luận án
Sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ của đời sống tín ngưỡng dân gian tại Việt Nam từ cột mốc Đổi Mới năm 1986 đến nay đã tạo tiền đề cho sự bùng nổ của loại hình du lịch văn hóa tâm linh. Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, quần thể di tích Núi Sam thuộc thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, nổi lên như một trung tâm hành hương quy mô bậc nhất với sức hút hơn 6 triệu lượt du khách mỗi năm đến chiêm bái, thực hành tín ngưỡng tại Miếu Bà Chúa Xứ, Lăng Thoại Ngọc Hầu và Chùa Tây An. Mặc dù đóng vai trò là đòn bẩy kích cầu kinh tế - xã hội then chốt cho địa phương, hoạt động du lịch tâm linh tại đây đang đối mặt với những xung đột lợi ích phức tạp giữa các chủ thể tham gia. Luận án tiến sĩ Dân tộc học của nghiên cứu sinh Dương Đức Minh (2023) với đề tài "Sự tham gia của các bên liên quan trong hoạt động du lịch tâm linh tại quần thể di tích Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang: Tiếp cận và loại trừ" do PGS. Ngô Thị Phương Lan và TS. Trương Thị Kim Chuyên hướng dẫn tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP.HCM đã tiên phong giải mã cấu trúc vận hành của mạng lưới này dưới lăng kính nhân học kinh tế và dân tộc học du lịch.
Khoảng trống học thuật cốt lõi (research gap) được luận án định vị xuất phát từ thực trạng: các nghiên cứu trước đây về du lịch tâm linh tại Việt Nam phần lớn chỉ tiếp cận ở góc độ mô tả thực trạng văn hóa - lễ hội, đánh giá tiềm năng khai thác hoặc phân tích hành vi du khách đơn thuần mang tính kinh tế học ứng dụng (Phan Huy Xu & Võ Văn Thành, 2018; Phạm Xuân Hậu & Nguyễn Thị Diễm Tuyết, 2020; Đinh Hồng Hải, 2021). Chưa có công trình nào mổ xẻ một cách thấu đáo và có hệ thống sự tham gia của các bên liên quan dựa trên khung phân tích "Tiếp cận" (Access) và "Loại trừ" (Exclusion) để nhận diện các lực đẩy, lực hút cũng như các rào cản mang tính cấu trúc chi phối quyền năng và khả năng hưởng lợi từ tài nguyên văn hóa tâm linh.
Để lấp đầy khoảng trống này, luận án thiết lập hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu cụ thể:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Các yếu tố nào cấu thành và tác động đến sức mạnh tiếp cận gắn với sự tham gia của các bên liên quan vào hoạt động du lịch tâm linh tại quần thể di tích Núi Sam?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Các yếu tố nào cấu thành và tác động đến sức mạnh loại trừ gắn với sự tham gia của các bên liên quan vào hoạt động du lịch tâm linh tại quần thể di tích Núi Sam?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Từ sự tương tác giữa sức mạnh tiếp cận và loại trừ của các bên liên quan, các chính sách phát triển du lịch tâm linh tại thành phố Châu Đốc cần được thực thi như thế nào để đảm bảo tính hiệu quả, hợp lý và bền vững?
Tương ứng với ba câu hỏi là ba giả thuyết nghiên cứu được kiểm chứng xuyên suốt luận án:
- Giả thuyết 1 (H1): Sức mạnh tiếp cận (lực hút) được cấu thành chủ yếu từ sự đổi mới thể chế chính sách tín ngưỡng - tôn giáo, tăng trưởng kinh tế, sự đầu tư hạ tầng kỹ thuật du lịch và hoạt động truyền thông biểu tượng thiêng.
- Giả thuyết 2 (H2): Sức mạnh loại trừ (rào cản) hình thành từ các quan niệm kiêng cữ tín ngưỡng bản địa, cơ chế phân hóa không gian thiêng - thế tục, rào cản năng lực sinh kế và các quy định hành chính kiểm soát rủi ro an ninh trật tự.
- Giả thuyết 3 (H3): Tồn tại một "vùng giao thoa" biện chứng giữa tiếp cận và loại trừ; trong đó, sức mạnh loại trừ mang ý nghĩa tích cực (bảo tồn, quản lý rủi ro) đóng vai trò là điều kiện tiền đề củng cố và mở rộng cơ hội tiếp cận bền vững cho các chủ thể tham gia.
Khung lý thuyết của công trình tích hợp Lý thuyết Tiếp cận (Theory of Access) của Jesse C. Ribot và Nancy Lee Peluso (2003), Lý thuyết Quyền lực Loại trừ (Powers of Exclusion) của Derek Hall, Philip Hirsch và Tania Murray Li (2011), cùng Lý thuyết Các bên liên quan (Stakeholder Theory) của R. Edward Freeman (1984). Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian Quần thể di tích Núi Sam từ mốc thời gian 1986 đến năm 2022, dựa trên bộ dữ liệu hỗn hợp gồm 268 cuộc phỏng vấn sâu, 200 phiếu khảo sát định lượng du khách và dữ liệu theo dõi 68 đoàn du lịch (1.779 lượt khách) của Công ty Vietnam Tourist, tạo nên đóng góp đột phá về mặt nhận thức luận và phương pháp luận cho chuyên ngành Dân tộc học và Nhân học Du lịch tại Việt Nam.
Literature Review và Positioning
Nghiên cứu về sự tham gia của các bên liên quan (stakeholders) trong quản trị và phát triển du lịch bền vững đã hình thành nên một dòng chảy học thuật phong phú trên thế giới. Helen Zarokosta và Alex Koutsouris (2014) khi nghiên cứu tại Đô thị South Kynouria (Hy Lạp) đã chỉ ra rằng sự thiếu hụt liên kết và đồng thuận giữa các nhóm chủ thể địa phương sẽ tích tụ nguy cơ đe dọa trực tiếp đến mục tiêu bảo tồn tài nguyên. Khảo sát mô hình du lịch dựa vào cộng đồng tại Thái Lan, W. Noithammaraj (2015) khẳng định tiếp cận đa bên là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa việc phân phối lợi ích sinh kế. Tại châu Phi, Simumba Jackson (2020) nghiên cứu tại Zambia chứng minh sự tham gia thụ động của các bên liên quan khiến ngành du lịch trì trệ, đòi hỏi sự kết hợp tích hợp giữa phương pháp tiếp cận từ trên xuống (top-down) và từ dưới lên (bottom-up). Ahmed Sulaiman Khalfan Al Mahrizi (2021) khi phân tích vai trò các bên liên quan tại Oman nhấn mạnh sự cấp thiết của việc nâng cao "sức đề kháng cộng đồng" thông qua việc chủ động tham gia vào quy trình lập quy hoạch. Tại Việt Nam, các tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Trang và Phạm Thành Đạt (2015), Nguyễn Thị Bích Thủy (2017) đã tiếp cận mạng lưới liên kết hai chiều giữa các tác nhân nhằm định vị vai trò của cộng đồng địa phương trong hệ sinh thái du lịch.
Song song đó, mảng nghiên cứu về du lịch tâm linh và nhân học tôn giáo ghi nhận những công trình kinh điển. Dallen J. Timothy và Daniel H. Olsen (2006) trong công trình Tourism, Religion and Spiritual Journeys đã phân định rõ các thực hành đặc thù giữa du lịch tôn giáo và du lịch hành hương. Alex Norman (2011) với ấn phẩm Spiritual Tourism: Travel and Religious Practice in Western Society tiếp cận hiện tượng này từ góc độ biến đổi thực hành tôn giáo đương đại, nơi du khách tìm kiếm sự tự chuyển hóa và cân bằng tinh thần. Đáng chú ý, nhà nhân học Philip Taylor (2004) qua công trình Goddess on the Rise: Pilgrimage and Popular Religion in Vietnam đã đặc tả sinh động sức mạnh niềm tin gắn với tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ Núi Sam của cư dân Nam Bộ, giải thích cội nguồn tâm thức thu hút hàng triệu khách hành hương mỗi năm. Về mặt lý thuyết thị trường tôn giáo, Đinh Hồng Hải (2021) cảnh báo nguy cơ phát triển kém bền vững của du lịch tâm linh tại Việt Nam do sự thiếu minh bạch và xu hướng thương mại hóa quá mức các dịch vụ tín ngưỡng.
Trong bức tranh tổng quan đó, tồn tại một cuộc tranh luận học thuật sâu sắc giữa hai luồng quan điểm: một bên nhìn nhận du lịch tâm linh là công cụ bảo tồn di sản và tạo sinh kế cộng đồng thuần túy; bên kia phê phán sự xâm thực của tính thế tục làm biến dạng không gian thiêng và gây xung đột chức năng di tích (Lu Tianling & Gan Lu, 2009). Luận án của Dương Đức Minh đã định vị chính xác ở giao điểm của cuộc tranh luận này, tạo bước tiến đột phá khi đưa các khái niệm kinh tế chính trị tài nguyên vào Dân tộc học du lịch. So với nghiên cứu của Simumba (2020) tại Zambia và Al Mahrizi (2021) tại Oman vốn chỉ dừng lại ở mô hình quản trị hành chính, luận án đi sâu bóc tách cấu trúc vi mô của quyền lực biểu tượng, quan hệ giai cấp và sự phân tầng khả năng hưởng dụng tài nguyên thiêng giữa các nhóm chủ thể tại vùng biên giới Tây Nam Bộ Việt Nam.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đã mở rộng biên độ ứng dụng của Lý thuyết Tiếp cận (Theory of Access) do Jesse C. Ribot và Nancy Lee Peluso (2003) khởi xướng. Thay vì giới hạn khái niệm "tiếp cận" trong phạm vi quyền sở hữu tài nguyên thiên nhiên vật thể (đất đai, rừng, nguồn nước), luận án đã khái niệm hóa việc "tiếp cận tài nguyên văn hóa tâm linh" như một dạng thức quyền năng phức hợp. Tiếp cận ở đây được định nghĩa là khả năng (ability) chứ không chỉ đơn thuần là quyền (right) thu lợi từ các giá trị biểu tượng thiêng, không gian thực hành nghi lễ và các dịch vụ bổ trợ du lịch.
Đồng thời, luận án làm sâu sắc thêm Lý thuyết Quyền lực Loại trừ (Powers of Exclusion) của Derek Hall, Philip Hirsch và Tania Murray Li (2011). Luận án chứng minh rằng trong bối cảnh du lịch tâm linh, "sức mạnh loại trừ" không thuần túy mang ý nghĩa tiêu cực của sự tước đoạt hay bất bình đẳng xã hội. Ngược lại, tác giả đề xuất một luận điểm mang tính bước ngoặt: sự tồn tại của "Sức mạnh loại trừ mang ý nghĩa tích cực" (positive/protective exclusion). Đây là tập hợp các cơ chế điều tiết, sàng lọc, rào cản hành chính và kiêng cữ văn hóa được thiết lập nhằm ngăn chặn các hành vi trục lợi, mê tín dị đoan, buôn bán chèo kéo, qua đó bảo vệ tính thiêng của di tích và thiết lập trật tự an ninh cho du khách.
Từ sự đối thoại giữa hai lý thuyết, luận án đóng góp một mô hình lý thuyết mới với các mệnh đề/giả thuyết được cụ thể hóa:
- Mệnh đề 1: Khả năng tiếp cận của một bên liên quan tỷ lệ thuận với mức độ sở hữu các "cơ chế tiếp cận cấu trúc và quan hệ" (vốn tài chính, công nghệ, thẩm quyền chính trị, vốn xã hội và tri thức biểu tượng).
- Mệnh đề 2: Loại trừ tích cực là điều kiện bảo đảm cho sự tiếp cận bền vững; nếu thiếu vắng sức mạnh loại trừ tích cực, sự tiếp cận tự do vô trật tự sẽ dẫn đến "bi kịch của tài nguyên chung" (tragedy of the commons) tại không gian thiêng.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp chặt chẽ ba trục lý thuyết: Lý thuyết Tiếp cận (Ribot & Peluso, 2003), Lý thuyết Quyền lực Loại trừ (Hall et al., 2011) và Lý thuyết Các bên liên quan (Freeman, 1984; Sautter & Leisen, 1999).
Khung phân tích này vận hành dựa trên các khái niệm thao tác cốt lõi:
- Lực hút tiếp cận: Hệ thống đòn bẩy bao gồm chính sách đổi mới tín ngưỡng, tăng trưởng kinh tế, đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch và sức mạnh truyền thông lan tỏa tính thiêng.
- Rào cản loại trừ: Hệ thống rào cản bao gồm quy định hành chính, sự kiểm soát không gian thiêng, các kiêng cữ văn hóa bản địa và sự thiếu hụt nguồn lực sinh kế của người dân nghèo.
- Vùng giao thoa tiếp cận – loại trừ: Không gian đan xen nơi các chủ thể thương lượng, thích ứng và tái cấu trúc quyền năng của mình.
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập rõ: áp dụng cho các không gian di tích tín ngưỡng - tôn giáo hỗn dung đa tộc người (Kinh, Hoa, Chăm, Khmer) tại các vùng biên địa đang trong quá trình chuyển đổi kinh tế thị trường và chịu sự chi phối mạnh mẽ của thiết chế quản lý nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án lựa chọn lập trường bản thể luận hiện thực phê phán (critical realism) và nhận thức luận diễn giải kiến tạo (constructivist interpretivism) đặc trưng của Dân tộc học và Nhân học văn hóa. Thiết kế nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp (mixed methods) với trọng tâm là định tính chuyên sâu (qualitative-dominant mixed methods research), trong đó dữ liệu định lượng đóng vai trò mô tả và hỗ trợ kiểm chứng thực nghiệm.
Thiết kế nghiên cứu đa tầng (multi-level design) được cấu trúc qua ba cấp độ phân tích:
- Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Các cơ quan quản lý Nhà nước (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang; Phòng Văn hóa và Thông tin TP. Châu Đốc).
- Cấp độ trung mô (Meso-level): Các doanh nghiệp lữ hành (tiêu biểu là Công ty Vietnam Tourist), Ban quản trị Lăng miếu Núi Sam, các cơ sở lưu trú và chuyên gia du lịch.
- Cấp độ vi mô (Micro-level): Cộng đồng cư dân bản địa tại phường Núi Sam (người buôn bán nhỏ, chạy xe ôm, dịch vụ cúng bái) và du khách hành hương thập phương.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Kế hoạch điền dã dân tộc học được thực hiện liên tục và bền bỉ trong giai đoạn từ tháng 9/2016 đến tháng 01/2022. Quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp tuân thủ các chuẩn mực nhân học khắt khe:
- Quan sát tham dự (Participant Observation): Nghiên cứu sinh trực tiếp tham dự trọn vẹn Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam vào các mùa cao điểm năm 2017 và 2018, đồng thời khảo sát định kỳ các mùa thấp điểm (từ tháng 5 đến tháng 12 hàng năm) nhằm ghi chép nhật ký điền dã, nắm bắt quy luật thời vụ và sự biến động áp lực không gian.
- Phỏng vấn sâu bán cấu trúc (In-depth Interviews): Thực hiện tổng cộng 268 cuộc phỏng vấn có chủ đích đối với 5 nhóm khách thể:
- Đại diện cơ quan quản lý Nhà nước: 05 cuộc (01 Giám đốc và 02 Phó Giám đốc Sở VH,TT&DL An Giang; 02 Trưởng phòng VH&TT TP. Châu Đốc qua các thời kỳ 2016–2018 và 2019–nay).
- Cộng đồng cư dân địa phương: 90 cuộc với những người trực tiếp và gián tiếp tham gia cung ứng dịch vụ.
- Du khách nội địa: 93 cuộc phỏng vấn sâu tại thực địa.
- Đại diện doanh nghiệp du lịch, lữ hành: 60 cuộc trong và ngoài tỉnh An Giang.
- Đội ngũ chuyên gia nghiên cứu, tư vấn, đào tạo du lịch: 20 cuộc (đến từ Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế và Du lịch, Trường ĐH Văn hóa TP.HCM, Học viện Cán bộ TP.HCM).
- Khảo sát bảng hỏi (Survey Questionnaire): Tiến hành phát 225 phiếu điều tra từ ngày 28/6 đến 01/7/2019 theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện có kiểm soát; thu về và xử lý 200 phiếu hợp lệ đảm bảo độ tin cậy.
- Theo dõi dữ liệu thực tế doanh nghiệp: Tiếp cận, tổng hợp dữ liệu của 68 đoàn khách với 1.779 lượt khách du lịch tâm linh do Công ty TNHH TMDV Vietnam Tourist tổ chức định kỳ hàng tuần từ tháng 5/2019 đến tháng 01/2022.
- Tam giác đạc dữ liệu (Data Triangulation): Kết hợp đối chéo giữa dữ liệu phỏng vấn sâu, quan sát tham dự, bảng hỏi thống kê và tài liệu thứ cấp (báo cáo kinh tế - xã hội, quy hoạch của UBND TP. Châu Đốc và Tỉnh ủy An Giang).
Data và phân tích
Dữ liệu định tính được phân tích theo kỹ thuật phân tích chủ đề (thematic analysis) và phân tích diễn ngôn (discourse analysis) trên cơ sở các biên bản phỏng vấn sâu và nhật ký thực địa. Dữ liệu định lượng từ 200 bảng hỏi và 1.779 lượt khách tour được nhập liệu, làm sạch và xử lý thống kê mô tả, phân tích tần suất và lập bảng chéo (cross-tabulation) bằng phần mềm Microsoft Excel. Quy trình kiểm tra tính vững (robustness checks) được thực hiện thông qua việc so sánh đối chiếu giữa số liệu khảo sát trực tiếp của tác giả năm 2019 với dữ liệu vận hành thực tế của Vietnam Tourist năm 2020 và thống kê chính thức của ngành du lịch địa phương giai đoạn 2010–2020.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Thứ nhất, nhận diện hệ thống 4 lực hút cấu thành sức mạnh tiếp cận du lịch tâm linh. Luận án chứng minh sức hút của Núi Sam không chỉ đến từ niềm tin tôn giáo nguyên thủy mà là kết quả cộng hưởng của:
- Thể chế chính sách cởi mở đối với tín ngưỡng dân gian và các chính sách đòn bẩy phát triển du lịch;
- Tăng trưởng kinh tế và nâng cao chỉ số phát triển con người (HDI Việt Nam tăng từ 0.493 năm 1990 lên 0.704 năm 2019);
- Sự bứt phá về hạ tầng giao thông và cơ sở lưu trú tại Châu Đốc;
- Hoạt động truyền thông số và truyền miệng lan tỏa "tính thiêng" của Bà Chúa Xứ. Theo thống kê của luận án, tháng 4 âm lịch (Lễ hội Vía Bà) là đỉnh điểm thu hút lượng khách khổng lồ, chiếm tỷ trọng vượt trội trong tổng lượng khách đến Châu Đốc giai đoạn 2015–2019.
Thứ hai, phát hiện cơ chế phân hóa nhân khẩu học và không gian trong sức mạnh loại trừ. Dữ liệu phân tích từ 200 du khách khảo sát năm 2019 và 1.779 khách của Vietnam Tourist năm 2020 bộc lộ những rào cản loại trừ rõ nét:
- Về giới tính: Nữ giới chiếm tỷ lệ áp đảo trong thực hành tâm linh (chiếm trên 60% lượng khách tour) và có xu hướng gắn kết chặt chẽ với niềm tin cầu tài lộc, bình an tại bức tường sau lưng tượng Bà Chúa Xứ.
- Về nghề nghiệp: Nhóm tiểu thương, kinh doanh buôn bán tự do chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu nghề nghiệp du khách đến cúng bái.
- Về không gian thiêng: Sự phân định ranh giới giữa khu vực hành lễ chính điện và khu vực hậu cung tạo ra sự loại trừ tiếp cận vật lý đối với một số nhóm đối tượng nhằm duy trì sự tôn nghiêm và an toàn di tích.
Thứ ba, luận giải hiện tượng "Loại trừ tích cực" và "Vùng giao thoa tiếp cận - loại trừ". Luận án đưa ra phát hiện bất ngờ: các biện pháp kiểm soát hành chính nghiêm ngặt của chính quyền (như xử lý 100% các đối tượng lang thang cơ nhỡ, kiểm tra liên ngành các cơ sở lưu trú, dẹp bỏ mê tín lừa đảo) tuy mang tính chất "loại trừ" các hoạt động tự phát nhưng lại tạo ra môi trường an toàn, gia tăng "sức mạnh tiếp cận" văn minh cho hàng triệu du khách thập phương.
Thứ tư, nhận diện cơ chế "Trả lễ" như một hình thức tái phân phối lợi ích sinh kế. Trích dẫn từ thực địa khẳng định:
"Người dân từng bước tham gia vào hoạt động du lịch, cải thiện đời sống và dùng nguồn lợi đó đóng góp trở lại cho Miếu Bà như một hình thức “trả lễ”" (Đặng Hoàng Lan, 2021).
Cộng đồng địa phương không chỉ thụ động chịu tác động mà chủ động sử dụng "vốn tâm linh" và "tâm niệm thiêng lành" để đàm phán quyền tham gia vào chuỗi cung ứng dịch vụ quanh Miếu Bà.
Implications đa chiều
- Về lý thuyết: Làm giàu kho tàng lý luận Dân tộc học kinh tế và Nhân học du lịch bằng việc chứng minh các nguồn lực vô hình (tính thiêng, niềm tin) có khả năng chuyển hóa thành tư bản kinh tế thông qua các cơ chế tiếp cận và loại trừ phức tạp.
- Về phương pháp luận: Cung cấp quy trình điền dã kết hợp định tính - định lượng mẫu mực cho các nghiên cứu về các điểm đến tâm linh có tính thời vụ cao tại Đông Nam Á.
- Về thực tiễn và chính sách: Khẳng định nguyên tắc then chốt của PGS. Ngô Thị Phương Lan và Dương Đức Minh (2018):
"Khai thác nguồn lực văn hóa tâm linh phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững là việc làm tổng hợp trên nguyên tắc “cùng làm”, “cùng chia sẻ lợi ích” và “cùng chung tay tạo ra sức mạnh cộng hưởng” của các bên liên quan."
Luận án đề xuất lộ trình cụ thể:
- Chuyển đổi mô hình quản lý từ hành chính đơn thuần sang mô hình đồng quản lý (co-management) có sự tham gia thực chất của đại diện cộng đồng cư dân Núi Sam;
- Đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tái diễn nghệ thuật Múa Bóng Rỗi trong lễ hội nhằm gia tăng trải nghiệm văn hóa thay vì chỉ dừng lại ở các nghi thức cúng viếng ngắn ngày;
- Thiết lập quỹ hỗ trợ sinh kế và đào tạo kỹ năng du lịch cộng đồng chuyên nghiệp cho cư dân địa phương.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn thừa nhận 3 giới hạn nghiên cứu chính:
- Giới hạn khách thể quốc tế: Luận án chủ yếu tập trung vào du khách nội địa do đặc thù tâm thức tín ngưỡng Bà Chúa Xứ mang tính bản địa sâu sắc; nhóm khách quốc tế đến Châu Đốc chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ và mang động cơ tham quan thế tục thuần túy nên chưa được mổ xẻ chuyên sâu.
- Phương pháp chọn mẫu định lượng: Mẫu khảo sát 200 du khách được thực hiện theo phương pháp thuận tiện tại thực địa vào năm 2019, dù đã phản ánh tốt xu hướng tần suất nhưng chưa áp dụng mô hình phân tích định lượng nâng cao (như SEM hay PLS-SEM) để lượng hóa trọng số tác động của từng nhân tố.
- Biến động ngoại cảnh: Giai đoạn cuối nghiên cứu (2020–2021) trùng với thời điểm đại dịch Covid-19 bùng phát, làm gián đoạn một số chuỗi hoạt động lễ hội thực tế và ảnh hưởng đến tính liên tục của dữ liệu doanh nghiệp lữ hành.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda) mở ra 4 hướng tiếp cận:
- Hướng 1: Ứng dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để kiểm định định lượng quy mô lớn mối quan hệ giữa các biến số: Nhận thức tính thiêng, Cơ chế tiếp cận, Rào cản loại trừ và Ý định quay trở lại của du khách.
- Hướng 2: Nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia (comparative studies) giữa quần thể Núi Sam với các trung tâm thờ Mẫu/Nữ thần tại Đông Nam Á như Quán Thế Âm Bồ Tát (Lombok, Indonesia) hay Nữ thần Thiên Hậu (Mazu, Đài Loan/Phúc Kiến).
- Hướng 3: Đánh giá tác động của chuyển đổi số và không gian tâm linh ảo (metaverse, cúng viếng trực tuyến) đến khả năng tiếp cận và loại trừ của các bên liên quan.
- Hướng 4: Phân tích sâu hơn chiều kích sinh thái chính trị học (Political Ecology) đối với sức tải môi trường tự nhiên tại Quần thể di tích Núi Sam.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật: Luận án đặt nền móng lý luận vững chắc cho việc ứng dụng lý thuyết kinh tế chính trị vào Dân tộc học du lịch tại Việt Nam; ước tính tạo ra tiềm năng trích dẫn cao trong các công trình nghiên cứu sau đại học về quản trị điểm đến di sản.
- Chuyển đổi ngành công nghiệp du lịch: Cung cấp cơ sở khoa học cho các doanh nghiệp lữ hành (như Saigontourist, Vietravel, Vietnam Tourist) tái cấu trúc sản phẩm tour từ "hành hương cúng bái đơn thuần" sang "du lịch trải nghiệm văn hóa - di sản có trách nhiệm".
- Ảnh hưởng chính sách: Trực tiếp đóng góp luận cứ khoa học cho Sở VH,TT&DL tỉnh An Giang và UBND TP. Châu Đốc trong việc hoàn thiện Quy chế quản lý Khu du lịch Quốc gia Núi Sam, xây dựng Đề án bảo tồn Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ trình UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại.
- Lợi ích xã hội: Giúp hàng ngàn hộ dân buôn bán nhỏ lẻ tại Châu Đốc nhận thức rõ quyền và cơ hội tiếp cận sinh kế chính đáng, hạn chế tình trạng tiêu cực, góp phần xây dựng hình ảnh điểm đến văn minh, thân thiện.
- Giá trị quốc tế: Đóng góp dữ liệu thực địa quý báu về bức tranh thực hành tín ngưỡng dân gian đương đại của Việt Nam vào mạng lưới nghiên cứu du lịch tôn giáo toàn cầu của UNWTO.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận một khung phân tích liên ngành hoàn chỉnh (Dân tộc học, Xã hội học, Kinh tế chính trị) cùng bộ công cụ điền dã thực chứng mẫu mực để triển khai các đề tài nghiên cứu về quản trị tài nguyên văn hóa.
- Các nhà nghiên cứu cao cấp (Senior Academics): Kế thừa luận điểm về "Loại trừ tích cực" và "Vùng giao thoa tiếp cận - loại trừ" để mở rộng phát triển lý thuyết nhân học kinh tế.
- Nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh và thành phố: Vận dụng trực tiếp các nhóm khuyến nghị để ban hành chính sách phân bổ nguồn thu từ di tích, giải quyết hài hòa bài toán bảo tồn di sản và phát triển kinh tế địa phương.
- Doanh nghiệp lữ hành và dịch vụ: Nắm bắt chính xác đặc điểm nhân khẩu học, hành vi và chu kỳ thời vụ của du khách để tối ưu hóa chiến lược tiếp thị, phân khúc thị trường và nâng cao chất lượng dịch vụ.
- Cộng đồng cư dân bản địa: Được bảo vệ quyền lợi sinh kế chính đáng thông qua cơ chế chính sách công bằng, minh bạch và có cơ hội nâng cao thu nhập ổn định.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất là việc luận án đã mở rộng Lý thuyết Tiếp cận (Theory of Access) của Ribot & Peluso (2003) và Lý thuyết Quyền lực Loại trừ (Powers of Exclusion) của Hall, Hirsch & Li (2011) sang địa hạt tài nguyên văn hóa tâm linh. Luận án phát hiện và luận giải thành công khái niệm "Sức mạnh loại trừ mang ý nghĩa tích cực" (protective exclusion) và "Vùng giao thoa tiếp cận – loại trừ". Luận án chứng minh loại trừ không chỉ là rào cản tiêu cực mà là công cụ quản trị tất yếu để duy trì tính thiêng và trật tự xã hội, tạo điều kiện cho sự tiếp cận bền vững.
2. Đột phá về mặt phương pháp luận của luận án khi so sánh với các công trình đi trước?
So với các nghiên cứu của Zarokosta & Koutsouris (2014) tại Hy Lạp hay Simumba (2020) tại Zambia vốn chỉ phỏng vấn định tính số lượng nhỏ hoặc khảo sát bảng hỏi đơn lẻ, luận án của Dương Đức Minh tạo đột phá bằng quy trình Dân tộc học thực địa đa thời gian (longitudinal ethnography) kéo dài 6 năm (2016–2022). Nghiên cứu tích hợp quy mô mẫu sâu rộng chưa từng có tại một điểm đến tâm linh ở Việt Nam: 268 cuộc phỏng vấn sâu bao quát 5 nhóm chủ thể, 200 bảng hỏi chuẩn hóa, kết hợp theo dõi dữ liệu thực tế 68 đoàn khách (1.779 lượt) của doanh nghiệp lữ hành và quan sát tham dự trực tiếp tại các mùa Lễ hội Vía Bà 2017, 2018.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì?
Phát hiện bất ngờ nhất là sự tồn tại của cơ chế "Trả lễ kép" mang tính kinh tế - biểu tượng giữa cộng đồng địa phương và Miếu Bà Chúa Xứ. Người dân địa phương sau khi hưởng lợi kinh tế từ việc phục vụ du khách đã tự nguyện trích nguồn thu nhập để đóng góp, cung kính công đức trở lại cho Miếu Bà. Hành vi này vừa nhằm "tạ ơn" lực lượng siêu nhiên đã ban phát sinh kế, vừa tái củng cố quyền năng tiếp cận không gian kinh doanh tâm linh của chính họ tại khu vực di tích.
4. Luận án có cung cấp quy trình nhân bản/tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?
Có. Luận án xây dựng quy trình thao tác hóa khái niệm rõ ràng, cung cấp chi tiết khung câu hỏi phỏng vấn sâu cho từng nhóm chủ thể (Phụ lục trích biên bản phỏng vấn, nhật ký điền dã), tiêu chí chọn mẫu khảo sát du khách và ma trận mã hóa chủ đề tiếp cận - loại trừ. Quy trình này hoàn toàn có thể nhân bản để nghiên cứu tại các trung tâm tâm linh lớn khác ở Việt Nam như Chùa Hương (Hà Nội), Núi Bà Đen (Tây Ninh) hay Đền Hùng (Phú Thọ).
5. Chương trình nghiên cứu 10 năm (10-year Research Agenda) được phác thảo ra sao?
Luận án định hình chương trình nghiên cứu dài hạn tập trung vào 3 trụ cột:
- Xây dựng mô hình định lượng liên kết giữa Vốn biểu tượng - Cơ chế tiếp cận - Tính bền vững điểm đến di sản;
- Nghiên cứu nhân học số (Digital Anthropology) về sự chuyển dịch của các thực hành tâm linh trên không gian mạng và tác động đến dòng khách thực địa;
- So sánh mô hình kinh tế chính trị tôn giáo giữa các trung tâm hành hương nữ thần tại tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS).
Kết luận
- Luận án tiến sĩ của Dương Đức Minh (2023) là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng xuất sắc khung phân tích "Tiếp cận và Loại trừ" trong chuyên ngành Dân tộc học để giải mã sự tham gia của các bên liên quan tại Quần thể di tích Núi Sam.
- Công trình đã lượng hóa và minh chứng rõ nét vai trò của Núi Sam như một trung tâm du lịch tâm linh đặc biệt với hơn 6 triệu lượt khách/năm, đồng thời chỉ ra cấu trúc lực hút 4 thành phần (chính sách, kinh tế, hạ tầng, truyền thông) và hệ thống rào cản loại trừ đa tầng (văn hóa, giới, rủi ro, quản lý).
- Đóng góp đột phá về nhận thức luận là việc xác lập khái niệm "Loại trừ tích cực" và "Vùng giao thoa tiếp cận - loại trừ", tạo bước chuyển dịch mô hình tư duy (paradigm shift) từ quản lý đối phó sang đồng quản trị thích ứng đa bên liên quan.
- Mở ra 3 luồng nghiên cứu mới giàu tiềm năng: Nhân học kinh tế trong du lịch tâm linh, Sinh thái chính trị học không gian thiêng và Quản trị di sản dựa vào cộng đồng tại các vùng biên địa đa tộc người.
- Cung cấp hệ thống khuyến nghị chính sách có tính khả thi cao, đóng góp nền tảng khoa học vững chắc để tỉnh An Giang và TP. Châu Đốc hiện thực hóa mục tiêu phát triển Khu du lịch Quốc gia Núi Sam thành trung tâm du lịch văn hóa tâm linh văn minh, hiện đại và bền vững tầm cỡ khu vực Đông Nam Á.