Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Dân tộc học (mã số: 9310310) của nghiên cứu sinh Dương Đức Minh, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Ngô Thị Phương Lan và TS. Trương Thị Kim Chuyên tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (bảo vệ năm 2023), mang tiêu đề: "Sự tham gia của các bên liên quan trong hoạt động du lịch tâm linh tại quần thể di tích Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang: Tiếp cận và loại trừ".
Điều phối chính sách & Quản lý
TƯƠNG TÁC TIẾP CẬN VÀ LOẠI TRỪ
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 xác định vùng Tây Nam Bộ tập trung khai thác các giá trị văn hóa bản địa kết hợp sinh thái và du lịch MICE. Trong bức tranh đó, tỉnh An Giang sở hữu điểm đến tiêu biểu là quần thể di tích Núi Sam (thành phố Châu Đốc), nơi thu hút hơn 6 triệu lượt khách mỗi năm đến chiêm bái và thực hành tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ.
Mặc dù hoạt động du lịch tâm linh diễn ra sôi nổi và đóng vai trò động lực kinh tế cho địa phương, các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc mô tả di tích, lễ hội, khảo sát hành vi du khách hoặc đánh giá tiềm năng một cách đơn lẻ. Chưa có công trình nào phân tích chuyên sâu mạng lưới liên kết giữa các chủ thể dưới khung phân tích lý thuyết "tiếp cận" (access) và "loại trừ" (exclusion) theo góc nhìn của dân tộc học và nhân học du lịch. Việc thiếu vắng sự phân tích đồng bộ về các lực đẩy, lực hút và rào cản tham gia của các bên liên quan tạo ra khoảng trống lớn trong việc hoạch định chính sách phát triển bền vững cho điểm đến.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Định vị vai trò của các bên liên quan trong mạng lưới kết nối gắn với hoạt động du lịch tâm linh; phân tích các lực hút (sức mạnh tiếp cận) và rào cản (sức mạnh loại trừ) tác động đến sự tham gia của các bên liên quan tại quần thể di tích Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xây dựng cơ sở lý luận về du lịch tâm linh cùng khung phân tích tiếp cận và loại trừ.
- Làm rõ thực tiễn khai thác và phát triển du lịch tâm linh tại quần thể di tích Núi Sam.
- Phân tích lực hút và cơ hội tiếp cận của các bên liên quan khi tham gia vào chuỗi giá trị du lịch tâm linh.
- Phân tích sức mạnh loại trừ và các rào cản nảy sinh từ thực hành du lịch tâm linh tại địa bàn.
- Nhận diện vùng giao thoa giữa tiếp cận và loại trừ, từ đó đề xuất hệ thống khuyến nghị chính sách cho các bên liên quan.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Các yếu tố nào cấu thành và tác động đến sức mạnh tiếp cận gắn với sự tham gia của các bên liên quan vào hoạt động du lịch tâm linh tại quần thể di tích Núi Sam?
- Câu hỏi 2: Các yếu tố nào cấu thành và tác động đến sức mạnh loại trừ gắn với sự tham gia của các bên liên quan vào hoạt động du lịch tâm linh tại quần thể di tích Núi Sam?
- Câu hỏi 3: Từ sự tương tác giữa sức mạnh tiếp cận và loại trừ, các chính sách phát triển du lịch tâm linh tại thành phố Châu Đốc nên được thực thi như thế nào để đảm bảo tính hiệu quả, hợp lý và bền vững?
- Giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết 1: Các yếu tố chính cấu thành sức mạnh tiếp cận bao gồm chính sách đổi mới tôn giáo - tín ngưỡng, tăng trưởng kinh tế, sự đầu tư hạ tầng kỹ thuật và hoạt động truyền thông quảng bá.
- Giả thuyết 2: Các yếu tố chính cấu thành sức mạnh loại trừ bao gồm quan niệm kiêng kỵ trong nghi lễ tín ngưỡng, nguy cơ rủi ro trật tự xã hội và rào cản trong tổ chức quản lý, cung ứng dịch vụ du lịch.
- Giả thuyết 3: Tồn tại vùng giao thoa giữa lực hút và rào cản. Sức mạnh loại trừ mang ý nghĩa tích cực (kiểm soát trật tự, hạn chế tiêu cực) sẽ tạo tiền đề thúc đẩy cơ hội tiếp cận bền vững cho các chủ thể tham gia.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sức mạnh tiếp cận (lực hút) và sức mạnh loại trừ (rào cản) tác động đến sự tham gia của các bên liên quan trong hoạt động du lịch tâm linh.
- Phạm vi không gian: Quần thể di tích Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; trọng tâm là cụm lõi di tích: Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam, Lăng Thoại Ngọc Hầu và Chùa Tây An.
- Phạm vi thời gian: Thu thập tư liệu và phân tích dữ liệu lịch sử - xã hội từ năm 1986 (cột mốc Đổi mới) đến năm 2022.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào hai nhóm chủ thể chính: nhóm "cầu dịch vụ" (du khách nội địa) và nhóm "cung ứng dịch vụ" (chính quyền địa phương, Ban Quản trị Lăng Miếu, cán bộ quản lý khu di tích, doanh nghiệp lữ hành, cộng đồng dân cư buôn bán dịch vụ tại chỗ, đội ngũ chuyên gia).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba mạch nội dung chính:
1. Nghiên cứu về sự tham gia của các bên liên quan trong hoạt động du lịch
- Nghiên cứu quốc tế: Helen Zarokosta và Alex Koutsouris (2014) cảnh báo nguy cơ thiếu liên kết giữa các chủ thể tại Hy Lạp; W. Noithammaraj (2015) nhấn mạnh cách tiếp cận đa bên tại Thái Lan; Kristjansdottir và Ragnarsdóttir (2017) chỉ ra các chỉ số bền vững từ sự tham gia của công chúng; Simumba Jackson (2020) tại Zambia và Ahmed Sulaiman Khalfan Al Mahrizi (2021) tại Oman khẳng định sự tham gia thụ động của cộng đồng làm chậm tiến trình phát triển và đề xuất kết hợp tiếp cận "từ trên xuống" và "từ dưới lên".
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Nguyễn Thị Quỳnh Trang và Phạm Thành Đạt (2015), Nguyễn Thị Bích Thủy (2017) tại Đà Nẵng phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa các bên trong mạng lưới du lịch.
- Nghiên cứu về cộng đồng địa phương: Shui Wei và cộng sự (2012), Norlida Hanim Mohd Salleh và cộng sự (2016), Francis Mugizi và cộng sự (2017), Heri Puspito Diyah Setiyorini và cộng sự (2019), Đỗ Thiện Toàn và cộng sự (2016), Nguyễn Phước Hoàng (2017), Ngô Thị Liên (2018), Nguyễn Đoàn Hạnh Dung và Trương Thị Thu Hà (2019), Nguyễn Bùi Anh Thư và cộng sự (2019), Phạm Xuân Phú (2010), Bùi Loan Thùy và Trần Thị Mỹ Nhung (2017) đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng như thu nhập, chính sách, nhận thức, kỹ năng và vốn xã hội.
- Nghiên cứu về sự tham gia của du khách: Judit Zoltan và Bob McKercher (2014), Marta Zieba (2017), Chang Hsiao-Ming và cộng sự (2020), Su C.J. và cộng sự (2016), Fumiya Kimura và cộng sự (2021), Nguyễn Việt Anh (2021), Hồ Lê Thu Trang và Phạm Thị Phương Thảo (2018), Ralph W. Smith, Resat Arica và cộng sự (2021), Lwazi Apleni và Dinesh Vallabh (2017) phân tích hành vi, động cơ và các rào cản trải nghiệm của du khách.
2. Nghiên cứu về du lịch tâm linh
- Nghiên cứu quốc tế: Dallen J. Timothy và Daniel H. Olsen (2006) đặt nền móng lý luận về mối quan hệ giữa du lịch và hành trình tôn giáo; Rogelio Martínez Cárdenas (2010) tại Mexico; Alex Norman (2011) với ấn phẩm Spiritual Tourism; Muhammad Farooq Haq (2011), Rachin Suri và Jitender Rao (2014) về tiếp thị tâm linh; Li Ning (2007), Zhou Houqiang và cộng sự (2017) về phân loại phân khúc du khách; Lu Tianling và Gan Lu (2009) về xung đột không gian chùa chiền; Yuan Yinzhi (2013) về cơ chế điều phối lợi ích; Kurmanaliyeva và Izmailov (2014), Jaeyeon Choe và Michael O’Regan (2015), Nashuddin (2016), Vinay Sharma và cộng sự (2016), Joseph M. Yaniv Belhassen và Joanna Kujawa (2017), Angelo Nicolaides và Anton Grobler (2017), Ali Heidari và cộng sự (2018) tổng quan bản đồ nghiên cứu du lịch tôn giáo toàn cầu.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Võ Văn Sen, Ngô Thị Phương Lan và Ngô Thanh Loan (2018) trong chuyên khảo xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù ĐBSCL; Ngô Thị Phương Lan và Dương Đức Minh (2018); Phan Huy Xu và Võ Văn Thành (2018); Nguyễn Xuân Hương và cộng sự (2018); Nguyễn Thị Hường (2014); Phạm Thị Hồng Nhung và cộng sự (2020); Nguyễn Trọng Hiếu (2017); Nguyễn Minh Triết và Mai Võ Ngọc Thanh (2017); Trần Thị Hồng Anh (2014); Vũ Trọng Hòa (2016); Hồ Tiểu Bão (2017); Dương Đức Minh và Tạ Duy Linh (2015); Đinh Hồng Hải (2021) phân tích du lịch tâm linh từ lý thuyết thị trường tôn giáo.
3. Nghiên cứu về văn hóa và du lịch tại An Giang, Châu Đốc
- Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Quang Vũ (2017), Võ Văn Thắng và cộng sự (2017), Dương Đức Minh và cộng sự (2019); Philip Taylor (2004) với công trình Goddess on the Rise; Phạm Văn Chiều (2019); Phạm Xuân Hậu và Nguyễn Thị Diễm Tuyết (2020); Đào Thanh Quyến và cộng sự (2012); Châu Thị Thùy Trang (2021); Hồ Thị Đào (2019); Trịnh Minh Chánh (2022); Đặng Hoàng Lan (2021); Huỳnh Công Hiếu (2021); Võ Văn Thắng và Nguyễn Trung Hiếu (2021); Phạm Thị Huệ (2019); Dương Thị Ngọc Thu (2019); Trần Thế Định và Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2019).
Khoảng trống nghiên cứu xác lập vị trí của luận án: Các công trình tại Núi Sam phần lớn tiếp cận đơn ngành, chưa có công trình nào sử dụng khung lý thuyết tiếp cận và loại trừ để giải mã bức tranh đa chiều về sự tham gia, xung đột lợi ích và tính giao thoa chính sách giữa các bên liên quan tại điểm đến này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung phân tích
Luận án thao tác hóa các khái niệm công cụ: Du lịch, Tài nguyên du lịch, Sản phẩm du lịch, Du lịch tâm linh và Các bên liên quan. Trong đó, tác giả tổng hợp khung phân biệt ba hình thái du lịch có sự giao thoa:
| Tiêu chí |
Du lịch tâm linh |
Du lịch tôn giáo |
Du lịch hành hương |
| Phạm vi khái niệm |
Bao hàm cả du lịch tôn giáo và du lịch hành hương |
Là một bộ phận của du lịch tâm linh |
Là một dạng thức đặc thù của du lịch tôn giáo/tâm linh |
| Đối tượng du khách |
Tín đồ tôn giáo, người có tín ngưỡng dân gian hoặc người tìm kiếm sự cân bằng tinh thần thế tục |
Tín đồ tôn giáo hoặc người quan tâm tìm hiểu văn hóa tôn giáo |
Chủ yếu là tín đồ có đức tin sâu sắc, gắn bó mật thiết với giáo luật, nghi lễ |
| Mục đích chuyến đi |
Nâng cao thể lực, trí lực, giải tỏa căng thẳng, chiêm bái, cầu an |
Thực hành bổn phận tôn giáo, tìm hiểu giáo lý, tham quan cơ sở thờ tự |
Thực hiện nghi lễ thiêng liêng, hướng về cội nguồn tâm linh, tạ lễ |
Khung phân tích lý thuyết của luận án vận dụng quan điểm Lý thuyết Tiếp cận và Loại trừ (Access and Exclusion Theory) vào lĩnh vực nhân học du lịch:
- Sức mạnh tiếp cận: Khả năng của các chủ thể trong việc hưởng lợi từ nguồn lực tài nguyên du lịch tâm linh thông qua các công cụ hỗ trợ như chính sách, kinh tế thị trường, hạ tầng và truyền thông.
- Sức mạnh loại trừ: Các rào cản ngăn trở sự tham gia, bao gồm các chuẩn mực kiêng kỵ tâm linh, sự phân hóa xã hội (giới tính, lứa tuổi), kiểm soát an ninh trật tự và sự cạnh tranh không lành mạnh trong cung ứng dịch vụ.
- Vùng giao thoa: Không gian tương tác nơi các biện pháp loại trừ tích cực (quản lý, giám sát) trở thành điều kiện bảo đảm để mở rộng cơ hội tiếp cận bền vững.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính làm chủ đạo cùng các kỹ thuật khảo sát định lượng mô tả, thực hiện qua kế hoạch điền dã từ tháng 9/2016 đến tháng 7/2022:
- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Hệ thống hóa các văn bản pháp quy, số liệu thống kê du lịch, báo cáo kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang và thành phố Châu Đốc từ năm 1986 đến 2022.
- Phương pháp phỏng vấn sâu (In-depth interview): Thực hiện tổng cộng 268 cuộc phỏng vấn sâu có chủ đích và chọn mẫu thuận tiện:
- Cơ quan quản lý Nhà nước: 05 người (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch An Giang: 03 người gồm 01 Giám đốc và 02 Phó Giám đốc; Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố Châu Đốc: 02 người qua 2 nhiệm kỳ).
- Cộng đồng dân cư địa phương: 90 cuộc đối với người dân tham gia trực tiếp và gián tiếp vào chuỗi cung ứng dịch vụ.
- Du khách nội địa: 93 cuộc phỏng vấn thuận tiện tại khu di tích.
- Doanh nghiệp lữ hành, dịch vụ: 60 cuộc với đại diện các công ty du lịch trong và ngoài tỉnh.
- Chuyên gia: 20 cuộc với các nhà khoa học, tư vấn và đào tạo du lịch.
- Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Thu thập thông tin từ ngày 28/6 đến 01/7/2019; phát ra 225 phiếu, thu về và xử lý 200 phiếu hợp lệ bằng phần mềm Excel nhằm phân tích thống kê mô tả về cơ cấu nghề nghiệp, lứa tuổi, động cơ và các rào cản của du khách.
- Phương pháp theo dõi hành trình đoàn khách: Thu thập, phân tích thông tin từ 68 đoàn khách (1.779 lượt khách) du lịch tâm linh do Công ty TNHH TMDV Vietnam Tourist tổ chức về Núi Sam giai đoạn từ tháng 5/2019 đến tháng 01/2022.
- Phương pháp quan sát tham dự: Trực tiếp tham dự Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam vào các năm 2017 và 2018 để ghi nhận tính thời vụ và các xung đột diễn ra trên thực địa.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 1 thiết lập khung lý thuyết và phác họa tổng quan bức tranh kinh tế - xã hội, văn hóa của điểm đến nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các khái niệm cốt lõi, làm rõ cấu trúc sản phẩm du lịch tâm linh hình thành từ tài nguyên văn hóa tín ngưỡng kết hợp với hệ thống dịch vụ do con người sáng tạo.
- Khái quát về địa bàn thành phố Châu Đốc và quần thể di tích Núi Sam: nơi quy tụ hệ thống di tích cấp quốc gia gồm Miếu Bà Chúa Xứ, Lăng Thoại Ngọc Hầu, Chùa Tây An và Chùa Hang.
- Phân tích hiện trạng phát triển du lịch giai đoạn 2016–2020: lượng du khách đến Núi Sam luôn chiếm tỷ trọng áp đảo (trên 6 triệu lượt khách/năm) so với tổng lượng khách đến tỉnh An Giang. Điểm đến mang tính thời vụ rõ nét, tập trung cao điểm vào mùa Lễ hội Vía Bà (tháng Giêng đến tháng Tư âm lịch).
- Thống kê cơ cấu các chủ thể tại địa bàn: dân số phường Núi Sam khoảng 28.600 người (năm 2020), lực lượng lao động phục vụ du lịch khoảng 2.000 người, nhân sự Ban Quản trị Lăng Miếu 132 người, cán bộ Ban Quản lý Khu di tích 30 người, cùng nhóm hành nghề tự do, "cò mồi" khoảng 100 người.
CƠ CẤU NHÂN SỰ TẠI KHU VỰC NÚI SAM (2020)
Chương 2: Sức mạnh tiếp cận từ thực hành du lịch tâm linh tại quần thể di tích Núi Sam
Chương 2 phân tích các nguồn lực cấu thành sức mạnh tiếp cận (lực hút) thúc đẩy các bên liên quan tham gia vào hoạt động du lịch:
- Sức mạnh từ chính sách: Sự cởi mở và hoàn thiện trong chính sách tôn giáo, tín ngưỡng của Nhà nước sau Đổi mới đã giải phóng nhu cầu sinh hoạt tâm linh của người dân. Quyết định công nhận Khu du lịch quốc gia Núi Sam tạo đòn bẩy pháp lý và cơ chế thu hút đầu tư.
- Sức mạnh từ kinh tế thị trường và hạ tầng: Đời sống người dân nâng cao tạo ra sự dư dôi về tài chính và thời gian dành cho du lịch tâm linh. Hạ tầng giao thông kết nối vùng ĐBSCL và các tuyến tránh nội ô Châu Đốc cùng sự gia tăng các cơ sở lưu trú giúp việc tiếp cận điểm đến trở nên thuận tiện.
- Sức mạnh từ truyền thông: Tính linh thiêng của Bà Chúa Xứ được lan tỏa qua mạng lưới truyền miệng dân gian nhiều thế hệ kết hợp các phương tiện truyền thông hiện đại và mạng xã hội, định vị thương hiệu du lịch Châu Đốc.
- Biểu hiện tham gia tiếp cận:
- Từ phía du khách: Động cơ đến Núi Sam chủ yếu để cầu bình an, tài lộc, sức khỏe và trả lễ (vay – trả lộc Bà). Khảo sát cho thấy sự đa dạng về cơ cấu nghề nghiệp (kinh doanh, buôn bán, công chức, lao động tự do) và lứa tuổi.
- Từ phía các bên liên quan khác: Chính quyền tăng nguồn thu ngân sách; Ban Quản trị tiếp nhận nguồn công đức lớn để tái đầu tư từ thiện và hạ tầng; doanh nghiệp lữ hành mở rộng tuyến tour; cộng đồng bản địa chuyển đổi sinh kế sang bán nhang đèn, lễ vật, dịch vụ ăn uống và lưu trú.
Chương 3: Sức mạnh loại trừ từ thực hành du lịch tâm linh tại quần thể di tích Núi Sam
Chương 3 chỉ ra các rào cản và cơ chế hạn chế (lực cản) xuất hiện trong quá trình vận hành điểm đến:
- Sức mạnh loại trừ từ sự tham gia của du khách:
- Rào cản từ quan niệm tín ngưỡng: Những kiêng kỵ trong nghi thức cúng bái (trang phục, chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ, những điều cấm kỵ khi bước vào chánh điện) tạo ra sự tự loại trừ của một bộ phận người tham gia.
- Sự phân hóa về giới và lứa tuổi: Khảo sát cho thấy nữ giới và nhóm tuổi trung niên, cao niên có mức độ tham gia thực hành nghi lễ sâu hơn, trong khi nam giới trẻ tuổi thường chỉ đóng vai trò đồng hành hoặc tham quan thế tục.
- Sức mạnh loại trừ từ các bên liên quan còn lại:
- Loại trừ nhằm hạn chế rủi ro cho du khách: Ban Quản lý và chính quyền áp dụng các biện pháp hành chính để loại bỏ tệ nạn mê tín dị đoan, bói toán, cờ bạc bịp, chèo kéo giá cao, móc túi và nhóm "cò mồi".
- Loại trừ trong cung ứng dịch vụ: Rào cản về vốn, vị trí mặt bằng và chứng chỉ chuyên môn tạo ra sự phân hóa, loại trừ các hộ kinh doanh nhỏ lẻ không đủ điều kiện ra khỏi chuỗi cung ứng chính quy, dẫn đến xung đột sinh kế cục bộ.
Chương 4: Tương tác giữa tiếp cận và loại trừ: Các khuyến nghị chính sách cho sự tham gia của các bên liên quan
Chương 4 đúc kết quy luật tương tác và đề xuất giải pháp quản lý:
- Vùng giao thoa giữa tiếp cận và loại trừ: Tiếp cận và loại trừ không triệt tiêu nhau mà tồn tại trong mối quan hệ biện chứng. Khi sức mạnh loại trừ mang ý nghĩa tích cực (ngăn chặn hành vi trục lợi, bảo vệ an ninh trật tự, chuẩn hóa giá cả dịch vụ) được thực thi nghiêm túc, nó sẽ bảo vệ tính tôn nghiêm của không gian thiêng và củng cố niềm tin, từ đó mở rộng cơ hội tiếp cận văn minh, an toàn cho du khách và doanh nghiệp.
- Tác động hai chiều: Nếu lực tiếp cận phát triển quá nóng mà thiếu kiểm soát (quá tải sức chứa, thương mại hóa tâm linh) sẽ làm suy thoái môi trường di tích; ngược lại, nếu áp đặt các rào cản loại trừ quá cứng nhắc sẽ làm triệt tiêu sinh kế của người dân nghèo bản địa.
- Vai trò của chính sách: Chính sách giữ vai trò điều phối trung tâm, vừa là đòn bẩy tiếp cận vừa là công cụ thiết lập các giới hạn loại trừ hợp lý.
- Hệ thống khuyến nghị chính sách:
- Về quản lý không gian và sản phẩm: Đa dạng hóa sản phẩm du lịch tâm linh kết hợp sinh thái Núi Sam, tổ chức lại không gian thờ tự và bãi đỗ xe nhằm giảm tải áp lực cho Miếu Bà.
- Về điều phối mạng lưới bên liên quan: Thiết lập cơ chế đối thoại định kỳ giữa Ban Quản lý, chính quyền, doanh nghiệp lữ hành và đại diện các hộ kinh doanh cá thể.
- Về sinh kế cộng đồng: Đào tạo kỹ năng phục vụ văn minh, chuyển đổi nghề nghiệp cho nhóm lao động phi chính thức (nhóm chèo kéo) vào các tổ nhóm tự quản có đăng ký.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Mở rộng lý thuyết Tiếp cận và Loại trừ trong Nhân học du lịch: Luận án vận dụng thành công lý thuyết "tiếp cận và loại trừ" để giải mã hoạt động du lịch tâm linh tại Việt Nam, chứng minh rằng quyền và khả năng hưởng lợi từ tài nguyên tâm linh luôn bị chi phối bởi mạng lưới quyền lực, thiết chế xã hội và các cơ chế thị trường.
- Xác lập khái niệm "Vùng giao thoa" và "Sức mạnh loại trừ tích cực": Luận án chứng minh sức mạnh loại trừ không hoàn toàn mang tính tiêu cực; việc loại trừ các hành vi lệch chuẩn, trục lợi là điều kiện tiên quyết để tạo lập một môi trường du lịch tâm linh an toàn, qua đó thúc đẩy và mở rộng cơ hội tiếp cận bền vững cho toàn thể cộng đồng.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn cảnh về mạng lưới các bên liên quan tại Núi Sam: Hệ thống hóa chi tiết các số liệu thực địa về lưu lượng khách, cơ cấu dân cư, đội ngũ lao động, doanh nghiệp và các xung đột lợi ích đặc thù tại một điểm đến tâm linh cấp quốc gia.
- Đề xuất giải pháp chính sách mang tính khả thi: Đưa ra các khuyến nghị cụ thể cho tỉnh An Giang và thành phố Châu Đốc trong việc xây dựng quy chế quản lý điểm đến, phân phối hài hòa nguồn thu công đức, kiểm soát an ninh trật tự và chuyển đổi sinh kế bền vững cho người dân địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Phạm vi khảo sát du khách chỉ tập trung vào nhóm du khách nội địa, chưa đi sâu phân tích nhóm khách quốc tế (do đặc thù du khách quốc tế đến Châu Đốc chủ yếu theo tour đường sông khám phá Mê Kông sang Campuchia, mang tính tham quan thế tục và không thể hiện nhu cầu tâm linh rõ nét).
- Dữ liệu khảo sát bằng bảng hỏi định lượng (200 mẫu) được thực hiện bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện trong khoảng thời gian nhất định (tháng 6–7/2019), chưa bao quát toàn bộ các thời điểm biến động trong năm.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh liên vùng giữa quần thể Núi Sam với các trung tâm du lịch tâm linh khác ở Nam Bộ (như Núi Bà Đen - Tây Ninh, Chùa Bà Thiên Hậu - Bình Dương).
- Nghiên cứu sâu hơn về tác động của quá trình chuyển đổi số và truyền thông đa nền tảng đối với hành vi thực hành nghi lễ và cơ chế tiếp cận của du khách thế hệ mới.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Thuộc các ngành Dân tộc học, Nhân học, Du lịch học, Xã hội học và Văn hóa học; đặc biệt có giá trị tham khảo về phương pháp luận kết hợp điền dã dân tộc học với lý thuyết tiếp cận - loại trừ trong nghiên cứu phát triển du lịch.
- Cơ quan quản lý nhà nước và Ban Quản lý di tích: Cung cấp cơ sở khoa học để hoạch định chính sách quản trị điểm đến, hoàn thiện mô hình quản lý Khu du lịch quốc gia Núi Sam và điều tiết quan hệ lợi ích giữa các bên tham gia.
- Doanh nghiệp lữ hành và kinh doanh dịch vụ: Giúp nhận diện rõ đặc điểm phân khúc khách du lịch tâm linh, quy luật thời vụ và hành vi tiêu dùng để xây dựng các chương trình tour văn minh, phù hợp với văn hóa bản địa.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt du lịch tâm linh với du lịch tôn giáo và du lịch hành hương như thế nào?
Theo tổng hợp của tác giả, du lịch tâm linh là khái niệm có độ bao phủ rộng nhất, bao gồm cả du lịch tôn giáo và du lịch hành hương. Du khách tâm linh không nhất thiết phải là tín đồ của một tôn giáo chính thức mà có thể là người thực hành tín ngưỡng dân gian hoặc tìm kiếm sự tĩnh tâm, cân bằng về mặt tinh thần. Trong khi đó, du lịch tôn giáo và hành hương đòi hỏi tính gắn kết giáo luật và đức tin sâu sắc hơn.
2. Những chủ thể nào được xác định là "các bên liên quan" trong luận án?
Mạng lưới các bên liên quan được luận án chia thành hai nhóm:
- Nhóm cầu dịch vụ: Du khách nội địa đến chiêm bái, thực hành tín ngưỡng.
- Nhóm cung ứng và quản trị dịch vụ: Cơ quan quản lý nhà nước (Sở VH,TT&DL An Giang, Phòng VH&TT Châu Đốc), Ban Quản lý Khu di tích Núi Sam, Ban Quản trị Lăng Miếu, doanh nghiệp lữ hành, cộng đồng dân cư buôn bán dịch vụ tại chỗ và đội ngũ chuyên gia tư vấn đào tạo.
3. Sức mạnh tiếp cận đối với du lịch tâm linh tại Núi Sam được tạo thành từ những lực hút nào?
Sức mạnh tiếp cận được cấu thành từ ba nguồn lực chủ yếu:
- Chính sách: Sự đổi mới chính sách tín ngưỡng tôn giáo và quy hoạch phát triển Khu du lịch quốc gia.
- Kinh tế và hạ tầng: Mức sống người dân gia tăng cùng hệ thống giao thông, cơ sở lưu trú được đầu tư nâng cấp.
- Truyền thông: Sự lan tỏa tính linh thiêng qua truyện truyền miệng dân gian và các kênh thông tin hiện đại.
4. Luận án lý giải như thế nào về "sức mạnh loại trừ mang ý nghĩa tích cực"?
Sức mạnh loại trừ mang ý nghĩa tích cực là các biện pháp quản lý, chế tài pháp lý nhằm loại bỏ các tệ nạn tiêu cực (mê tín dị đoan, "cò mồi", chèo kéo, cờ bạc, mất trật tự). Sự loại trừ này giúp bảo đảm tính trang nghiêm của không gian thờ tự, bảo vệ quyền lợi du khách, qua đó tạo môi trường lành mạnh để thu hút và duy trì sự tham gia tiếp cận lâu dài.
5. Vì sao luận án không phân tích sâu nhóm du khách quốc tế tại Núi Sam?
Dữ liệu khảo sát thực địa cho thấy du khách quốc tế đến Châu Đốc chủ yếu là khách phương Tây đi tour đường sông khám phá Mê Kông nối tuyến sang Campuchia. Nhóm khách này đến với mục đích tham quan cảnh quan thế tục, tìm hiểu văn hóa lịch sử thuần túy mà không có nhu cầu thực hành tín ngưỡng tại Miếu Bà Chúa Xứ, do đó không thuộc phạm vi trọng tâm của chuỗi giá trị du lịch tâm linh tại Núi Sam.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Đức Minh đã cung cấp một nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về sự tham gia của các bên liên quan trong hoạt động du lịch tâm linh tại quần thể di tích Núi Sam. Thông qua việc vận dụng sáng tạo khung lý thuyết tiếp cận và loại trừ, công trình đã làm rõ các lực hút kinh tế - xã hội thúc đẩy sự tham gia cũng như các rào cản phân hóa lợi ích trên thực địa. Phát hiện về vùng giao thoa và vai trò của sức mạnh loại trừ tích cực mang lại đóng góp quan trọng cho chuyên ngành Dân tộc học và Nhân học du lịch. Đây là tài liệu khoa học có giá trị cao, phục vụ thiết thực cho công tác hoạch định chính sách phát triển du lịch bền vững và quản trị di sản văn hóa tại tỉnh An Giang và vùng Đồng bằng sông Cửu Long.