Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Động lực lao động và các yếu tố ảnh hưởng đến động lực lao động 1. Một số khái niệm cơ bản - Nhu cầu Nhu cầu là trạng thái tâm lý của con người thể hiện sự mong muốn chưa được đáp ứng. Đánh giá chung của các giáo trình xã hội học và tâm lý học, nhu cầu con người được chia ra làm hai loại chính: Nhu cầu tinh thần và nhu cầu vật chất Nhu cầu vật chất: Nhu cầu vật chất là các nhu cầu cơ bản để duy trì sự sống của con người.
Nhu cầu vật chất là nhu cầu về một sự vật, hiện tượng nhất định và thường các nhu cầu vật chất hướng đến đối tượng rõ ràng: thức ăn, không khí, nước uống, nhà ở, phương tiện đi lại.126] Nhu cầu về tinh thần: Nhu cầu tinh thần là một mức cao hơn của những mong muốn của con người, nhu cầu tinh thần thường sinh ra từ những mong muốn của con người để phát triển, hoàn thiện bản thân về tinh thần nhiều hơn về mặt vật chất. Ví dụ, khi đã có nhà ở, có phương tiện đi lại, nhu cầu vật chất tạm thời được dừng lại và con người có những nhu cầu tinh thần khác cần được ưu tiên hơn: nhu cầu được học tập mở rộng kiến thức, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu được xã hội biết đến. - Động cơ Động cơ là đại diện cho nguồn động lực bên trong thúc đẩy hành vi của con người [16, tr. Động cơ là yếu tố cần xem xét chính và đầu tiên khi đánh giá hay phân tích hành vi của con người.
Hành vi của con người còn bị ảnh hưởng bởi xã hội, các điều kiện xung quanh [16, tr.58] Trong lý thuyết động cơ tâm lý của Mcguire chia động cơ của con người thành hai loại: yếu tố bên trong (không có tính xã hội) và yếu tố bên ngoài (có tính xã hội).60] Yếu tố bên trong, động cơ hoặc nhu cầu không có tính xã hội: là động cơ, nhu cầu do chính bản thân người đó tự xác định, là những nhu cầu có sự độc lập của 7 cá nhân ví dụ nhu cầu được quyết định các vấn đề của bản thân, nhu cầu tìm kiếm sự hứng thú trong công việc. Động cơ mang tính xã hội: Là những nhu cầu mang tính xã hội, kết nối về đặc điểm xã hội của con người: nhu cầu được giao tiếp, thể hiện bản thân, được biết đến và được coi trọng. - Tạo động lực lao động trong doanh nghiệp Tạo động lực lao động được hiểu là các biện pháp người sử dụng lao động tạo ra nhằm thúc đẩy người lao động đạt được các mục tiêu chung của doanh nghiệp.137] Tạo động lực lao động thường được các doanh nghiệp sử dụng những biện pháp thiết thực và phổ biến như thỏa mãn tinh thần, thỏa mãn nhu cầu vật chất, có các biện pháp khen thưởng, khích lệ, động viện. Tạo động lực lao động rất phong phú và đa dạng, không có một mô hình, một biểu mẫu nhất định cho tất cả các doanh nghiệp.
Những nhà quản lý doanh nghiệp thường có các biện pháp tạo động lực khác nhau, hướng đến những đối tượng lao động khác nhau và nhu cầu khác nhau của người lao động. Phát triển tổ chức hay phát triển người lao động đều được ảnh hưởng một phần không nhỏ từ tạo động lực lao động. Mối quan hệ giữa nhu cầu, động cơ và động lực lao động - Tồn tại mối quan hệ nguyên nhân- kết quả giữa nhu cầu –động cơ và động lực lao động: có thể giải thích, nhu cầu trở thành động cơ để người lao động làm việc. Khi đó, người sử dụng lao động nhìn nhận,đánh giá nhu cầu- động cơ của người lao động để có biện pháp tạo động lực lao động.
Bên cạnh đó, người sử dụng lao động phân tích nhu cầu của công ty động cơ thực hiện của công ty và đưa ra biện pháp tạo động lực phù hợp với nhu cầu hiện tại của công ty, tốn không quá nhiều chi phí và phù hợp với lực lượng lao động công ty đang có. Công ty cũng xác định nhu cầu lao động để có biện pháp với từng đối tượng, từng vị trí lao động phù hợp với tình hình kinh doanh, khả năng tài chính của công ty. - Tồn tại mối quan hệ cùng phát triển: Khi đánh giá, học viên nhận thấy: nhu cầu càng tăng thì động lực càng tăng. Nhu cầu của con người cao hơn, khiến cho những đòi hỏi về vật chất, về tinh thần lớn hơn, những nhu cầu đó trở thành động 8 cơ cho các hành vi của con người.
Ví dụ: một người đã có xe máy sẽ mong muốn có xe ô tô, nhưng cũng có người có xe máy đã thấy nhu cầu được đáp ứng và muốn được dành số tiền cho mục đích khác (học tập, quan hệ xã hội.) Dù là nhu cầu về mặt nào cũng không thể phủ nhận rằng giữa nhu cầu – động cơ- động lực lao động tồn tại mối quan hệ cùng phát triển.Nhu cầu lớn hơn sẽ dẫn đến động cơ lớn hơn, động lực lao động lớn hơn. Người sử dụng lao động cũng phải dựa trên những nhu cầu đó để điều chỉnh chính sách tạo động lực lao động. Ví dụ: một người lao động được tạo động lực bằng hình thức hỗ trợ tiền đi lại, nhưng khi anh ta đã chủ động hơn về mặt tài chính, nhu cầu của anh ta là được lên chức chứ không còn ở mức hỗ trợ tiền đi lại. Nếu công ty không có biện pháp thay đổi chính sách tạo động lực với người lao động thì đã không thỏa mãn được nhu cầu của người lao động.
Một số học thuyết về tạo động lực lao động 1. Học thuyết nhu cầu của Maslow 1. Nội dung học thuyết nhu cầu của Maslow Học thuyết nhu cầu của Maslow ra đời năm 1943 [26] là một trong những học thuyết nổi tiếng nhất giải thích về nhu cầu của người. Theo Maslow, học thuyết điều kiện là không đủ để giải thích nguyên nhân cho những hành vi của con người.
Học thuyết Maslow được trình bày theo dạng kim tự tháp: tầng thấp nhất và rộng nhất là những nhu cầu cơ bản nhất và nếu nhu cầu ở tầng đầu tiên không đạt được, sẽ rất khó để đẩy nhu cầu lên tầng cao hơn.1: Tháp nhu cầu của Maslow Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh tồn Nguồn: Giáo trình Quản trị nhân lực 2 – Đại học Lao động- Xã hội Học thuyết nhu cầu của Maslow đã đặt 4 tầng thấp và rộng hơn là thuộc về nhu cầu đời sống và tầng cao nhất là nhu cầu phát triển. 4 tầng đầu thấp hơn của tháp Maslow được sử dụng để thỏa mãn nhu cầu đang thiếu hụt của con người, nếu không thể thỏa mãn các nhu cầu đó, con người sẽ thiếu động lực để đẩy con người lên các bậc thang tiếp theo. - Nhu cầu sinh tồn: Các nhu cầu về ăn, ở, mặc, sinh hoạt. là các điều kiện cơ bản nhất để duy trì cuộc sống.
- Nhu cầu an toàn là nhu cầu được sống trong môi trường an toàn, có niềm tin tôn giáo, nhu cầu an toàn không chỉ là về mặt vật chất mà còn là về mặt tinh thần. - Nhu cầu xã hội là nhu cầu có gia đình,bạn bè, yêu thương, con cái. để thực hiện yếu tố xã hội của con người - Nhu cầu được tôn trọng là nhu cầu được lắng nghe, được tôn vinh, được trân trọng, được nêu lên chính kiến. 10 - Nhu cầu tự nâng cao, tự hoàn thiện là nhu cầu được phát triển cao hơn của con người, vượt qua những nhu cầu vật chất có thể nắm bắt được.
Nhu cầu tự hoàn thiện, tự nâng cao của người lao động thường là nhu cầu được lên chức, lên lương xứng đáng, nhu cầu được học tập. Theo Tiến sĩ Nicole Gravagna, Chủ tịch của NeuroEQ, cho rằng tháp Maslow không liệt kê những yêu cầu thực sự gắn với “hạnh phúc” của con người, thay vào đó, tháp Maslow mô tả cách làm thế nào con người có thể đạt được sự hài lòng dài lâu dài [27]. Học thuyết Maslow giúp trả lời một câu hỏi tưởng chừng như rất đơn giản: Nếu tôi có tất cả những gì tôi muốn, tại sao tôi vẫn thấy không thỏa mãn? Câu trả lời đó là: những gì tôi đã có là những nhu cầu cơ bản đã được thỏa mãn, nhưng có thể mức cao hơn của nhu cầu đó thì chưa. Đó cũng là ý tưởng cho sự phát triển liên tục do đó học thuyết Maslow không chỉ được sử dụng trong lĩnh vực xã hội học hay quản trị kinh doanh mà còn được sử dụng trong các ngành khoa học xã hội khá [27] 1.2 Áp dụng học thuyết nhu cầu Maslow trong tạo động lực lao động Áp dụng học thuyết Maslow trong tạo động lực có thể giải thích những như cầu cần thiết nhất của người lao động tại đơn vị.
Do vậy, vận dụng học thuyết Maslow vào tạo động lực người lao động, học viên rút ra một số kết luận có thể sử dụng như sau: Xác định nhu cầu người lao động là chìa khóa đầu tiên để tìm ra động lực cần tạo ở môi trường doanh nghiệp là theo hướng nào. Nhu cầu của mỗi lao động không giống nhau, rõ ràng tại thời điểm thực hiện khảo sát hoặc thực hiện ghi nhận về nhu cầu, mỗi người lao động sẽ đưa ra những đáp án khác nhau.Ảnh hưởng của cá nhân người lao động, điều kiện gia đình,điều kiện giới tính. sẽ tác động đến nấc thang nhu cầu mà người lao động đang "dừng lại” và nấc thang nào người lao động sẽ “bước tiếp”. Tạo động lực trong lao động được xây dựng để thỏa mãn tháp Maslow của người lao động và cũng để tạo ra tháp Maslow cho người lao động.
Học viên cho rằng, tháp Maslow không chỉ được xây dựng dựa trên ý chí của người lao động và 11 doanh nghiệp phải thỏa mãn nhu cầu theo tháp Maslow đó. Tạo động lực trong doanh nghiệp sẽ giúp người lao động vạch ra tháp Maslow của chính mình và doanh nghiệp sẽ có các biện pháp, chính sách để đẩy nhanh tháp Maslow đó được vận hành trơn tru cho đại đa số lao động.2 Học thuyết tăng cường tích cực của Skinner 1.1 Nội dung học thuyết Skinner Học thuyết tăng cường tích cực (operant conditioning) của Skinner cho rằng: tất cả mọi sự vật đều luôn trong trạng thái vận hành, không ngừng chuyển động , di chuyển và vận động. Trong quá trình này, những kích thích đặc biệt sẽ có ảnh hưởng nhất định đến các vận hành, vận động ấy.