CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Nhu cầu Nhu cầu là một trạng thái tâm lý của con người, là những mong muốn, nguyện vọng hoặc là các đòi hỏi của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.
Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Ví dụ nhu cầu vật chất như ăn uống, thời trang làm đẹp, nhà ở & tiện nghi sinh hoạt, môi trường làm việc; nhu cầu về tinh thần như tình yêu, hạnh phúc, sự kính trọng tôn vinh… Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu thường không ổn định & thường biến đổi, nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao. Trong doanh nghiệp, việc tìm hiểu nắm bắt được nhu cầu của người lao động là một điều quan trọng để người lãnh đạo đưa ra những biện pháp, cách thức phù hợp giúp thỏa mãn nhu cầu của họ; tạo môi trường làm việc thuận lợi để người lao động yên tâm làm việc, cống hiến cho doanh nghiệp.
Động lực “Động lực” là từ được nhắc đến ở hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống. Các nhà quản trị luôn muốn tìm câu trả lời cho câu hỏi rằng động lực của người lao động là gì. Có thể khái quát: Động lực là yếu tố bên trong của cá nhân mỗi người lao động. Đó chính là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào nhu cầu của người lao động để tạo nên sự chuyển biến hành vi của họ hướng theo những mục tiêu mà doanh nghiệp mong muốn đạt được.
Theo Bedeian (1993), “động lực là cố gắng để đạt mục tiêu của mỗi cá nhân”. Theo Higgins (1994), “động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng Luan van 7 các nhu cầu chưa được thỏa mãn”. Theo Kreitner (1995), “động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định”. Cần phân biệt hai khái niệm động lực và động cơ: cả động lực và động cơ đều hết sức quan trọng nhưng động lực có tính bền vững hơn, là yếu tố “gốc rễ”, bản chất.
Ví dụ: Lý do hàng ngày chúng ta đi làm là vì hàng tháng ta cần có một số tiền để tiêu vào một việc gì đó. Đó chính là động cơ, còn việc sử dụng tiền kiếm được vào “một việc gì đó” chính là động lực. Động lực thường mang tính bền vững và dài hạn, động cơ thường mang tính ngắn hạn, nhất thời và bề nổi. Như vậy, động lực xuất phát từ chính bản thân mỗi người.
Đây là một trạng thái nội tại, cung cấp sinh lực và hướng con người vào những hành vi có mục đích. Ở những vị trí khác nhau với những đặc điểm tâm lý khác nhau, động lực của mỗi người cũng khác nhau. Động lực lao động Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”. Bùi Anh Tuấn: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. Như vậy có thể nói động lực lao động là yếu tố bên trong của mỗi người lao động, xuất phát từ trong nội tại suy nghĩ của họ, kích thích họ tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Động lực lao động không xuất phát từ sự cưỡng chế hoặc từ các mệnh lệnh, nó không biểu hiện qua lời nói mà xuất phát từ nội tâm người lao động và thể hiện qua hành động cụ thể của người đó. Mỗi người lao động làm công việc khác nhau, tại vị trí khác nhau có thể có động lực lao động khác nhau.
Động lực mạnh mẽ sẽ thúc đẩy con người hành động một cách tích cực, đạt hiệu quả cao và ngược lại. Người lao động có động lực luôn Luan van 8 sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động. Các yếu tố ảnh hưởng tới động lực của người lao động thường rất phức tạp và đa dạng. Do đó, các nhà quản lý phải kết hợp tốt các yếu tố thuộc về bản thân người lao động và các nguồn lực của doanh nghiệp (công việc, tổ chức, môi trường làm việc…) để thúc đẩy người lao động làm việc hăng say, tăng chất lượng và hiệu quả công việc để từ đó vừa đạt được mục tiêu cá nhân người lao động vừa đạt được mục tiêu doanh nghiệp.
Tạo động lực lao động Mỗi người làm việc đều có những lý do khác nhau. Người lao động đều làm việc bởi họ có thể có được những thứ mà họ cần từ công việc. Những thứ mà người lao động dành được từ công việc có ảnh hưởng tới tinh thần, nhuệ khí, động lực làm việc và chất lượng cuộc sống của họ. Điều mà Nhà quản lý cần làm là sử dụng các động lực để thúc đẩy mọi ngừời thực hiện nhiệm vụ một cách có hiệu quả cho doanh nghiệp nơi họ làm việc.
Một tổ chức muốn làm việc có hiệu quả và thành công thì cần phải kích thích và thỏa mãn được sự nỗ lực của mọi người để đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả. Tạo động lực cho người lao động là việc dùng những biện pháp nhất định để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả hơn trong công việc. Lê Thanh Hà: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với người lao động như thế nào”.
Bùi Anh Tuấn: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc”. Luan van 9 Nguyễn Thị Minh An (2013), trong cuốn Quản trị nhân lực, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, Hà Nội, đưa ra quan niệm: “Tạo động lực lao động là sự vận dụng một hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động với NLĐ làm cho họ có động lực trong công việc, làm cho họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức”. Một cách khái quát, có thể hiểu: Tạo động lực lao động chính là việc các nhà quản trị sử dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý khác nhau để tác động tới NLĐ, làm cho họ tích cực lao động, hài lòng với công việc và mong muốn được cống hiến nhiều hơn cho tổ chức, doanh nghiệp của mình. Các học thuyết liên quan đến tạo động lực lao động 1.
Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Abraham Maslow chia hệ thống nhu cầu của con người thành 5 nhóm khác nhau theo thứ tự từ nhu cầu bậc thấp đến nhu cầu bậc cao. Nhu cầu sinh lý: đây là nhu cầu cơ bản nhất để duy trì cuộc sống của con người, những nhu cầu thật sự cần thiết cho cuộc sống như nhu cầu về thức ăn, nước uống, ngủ nghỉ, tình dục. Tuy là nhu cầu cơ bản nhưng lại quan trọng nhất, cần đáp ứng trước tiên. Những nhu cầu này cần được thoả mãn ở mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống sau đó mới tiến lên thêm các nhu cầu khác.
Bạn không thể sống mà không ăn, không ngủ… Luan van 10 Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Maslow Nguồn Internet Nhu cầu xã hội: bao gồm nhu cầu giao lưu kết bạn, học hỏi chia sẻ, yêu thương gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập. Tình yêu thương, lòng nhân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này. Ví dụ khi bạn bắt đầu làm việc cho một công ty mới, điều đầu tiên bạn làm là học hỏi và làm quen với công việc, sau dần bạn bắt đầu giao lưu kết bạn với các đồng nghiệp khác để mở rộng mối quan hệ, như vậy bạn sẽ cảm thấy vui vẻ thoải mái và làm việc hiệu quả hơn. Nhu cầu được tôn trọng: Ở cấp này, nhu cầu của con người đề cập đến việc mong muốn được người khác coi trọng, chấp nhận.
Họ bắt đầu nỗ lực, cố gắng để để được người khác công nhận. Nhu cầu này thể hiện ở lòng tự trọng, tự tin, tín nhiệm, tin tưởng và mức độ thành công của một người. Nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự trọng và mong muốn danh tiếng, sự tôn trọng từ người khác Luan van 11 Nhu cầu tự thể hiện: Đây là nhu cầu cao nhất của con người, nó nằm ở đỉnh của tháp nhu cầu Maslow. Khi bạn đã thỏa mãn được mọi nhu cầu của mình ở 4 cấp độ bên dưới, nhu cầu muốn thể hiện bản thân để được ghi nhận bắt đầu xuất hiện.
Mọi người đều cố gắng phát triển bản thân, sự nghiệp để tự khẳng định mình; hoặc đơn giản là nhu cầu sáng tạo, đạt được các thành tích mới trong công việc & trong cuộc sống. Theo Maslow: Mỗi nhân cần được thỏa mãn từ nhu cầu thấp nhất rồi mới tới các như cầu cao nhất, các nhu cầu dưới được thoả mãn thì nhu cầu trên mới xuất hiện. Nhà quản lý muốn tạo động lực cho nhân viên của mình thì cần phải hiểu được nhu cầu của nhân viên là gì, đang ở thứ bậc nào, từ đó có định hướng vào sự thoả mãn nhu cầu đó của họ để chính sách tạo động lực đạt được kết quả cao nhất. Học thuyết công bằng của Stacy Adams Học thuyết công bằng của John Stacy Adams nói sự động viên nhân viên.
Học thuyết phát biểu rằng người lao động so sánh những gì họ bỏ vào một công việc (đầu vào) với những gì họ nhận được từ công việc đó (đầu ra) và sau đó đối chiếu tỷ suất đầu vào – đầu ra của họ với tỷ suất đầu vào – đầu ra của những người khác.