Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam, nguồn nhân lực luôn giữ vai trò nòng cốt đối với sự thành công và chất lượng phục vụ nhân dân của các cơ quan quản lý nhà nước. Thực tế tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị cho thấy đơn vị phải gánh vác khối lượng công việc ngày càng gia tăng. Điển hình trong năm 2018, đơn vị đã tổ chức thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp đạt khoảng 1.507 triệu đồng; thực hiện chi trả chế độ an sinh cho 25.892 lượt đối tượng với tổng ngân sách thanh toán lên tới 196.110 triệu đồng; đồng thời giám định và chi trả quyền lợi bảo hiểm y tế cho 1.203 ngàn lượt khám chữa bệnh với tổng chi phí 627 tỷ đồng.

Mặc dù đóng góp to lớn vào sự nghiệp an sinh của địa phương, cơ quan đang phải đối mặt với bài toán suy giảm động lực lao động nghiêm trọng. Do mức thu nhập bình quân của cán bộ, viên chức chỉ dao động từ 6 đến 8 triệu đồng mỗi tháng trong khi áp lực nhiệm vụ thu chi, đôn đốc nợ đọng ngày càng khắt khe, làn sóng nghỉ việc đã diễn ra trên diện rộng. Trong giai đoạn 3 năm liên tiếp, toàn đơn vị ghi nhận có tới 192 cán bộ, viên chức xin thôi việc, trong đó xuất hiện cả những nhân sự giữ cương vị lãnh đạo cấp trưởng phòng và phó phòng trực thuộc.

Nhằm giải quyết triệt để vấn đề này, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công tập trung phân tích thực trạng, nhận diện các rào cản và xây dựng hệ thống giải pháp tạo động lực làm việc cho 250 viên chức tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị. Không gian nghiên cứu bao quát tại cơ quan trung tâm tỉnh cùng 9 cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện trực thuộc; khung dữ liệu phân tích tập trung từ năm 2014 đến năm 2018 và định hướng chiến lược đến năm 2030. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, hướng tới việc giảm tỷ lệ biến động nhân sự xuống dưới mức 5% mỗi năm, giải phóng tiềm năng sáng tạo và nâng cao chỉ số hài lòng của đội ngũ công chức, viên chức trong toàn ngành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của các học thuyết hành vi tổ chức và quản trị nhân lực kinh điển trên thế giới:

Thứ nhất, Thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943) đóng vai trò nền tảng chủ đạo. Mô hình phân cấp nhu cầu con người thành 5 tầng từ thấp đến cao: nhu cầu sinh học, an toàn, xã hội, được tôn trọng và tự khẳng định. Việc thỏa mãn các nhu cầu nền tảng về thu nhập và sự an toàn là tiền đề bắt buộc trước khi kích hoạt nhu cầu cống hiến sáng tạo của viên chức.

Thứ hai, Thuyết hai nhóm yếu tố của Frederick Herzberg (1959) giúp phân định ranh giới giữa yếu tố duy trì (tiền lương cơ bản, quy chế làm việc, điều kiện môi trường) nhằm ngăn ngừa sự bất mãn, và yếu tố thúc đẩy (sự ghi nhận thành tích, trách nhiệm giao quyền, cơ hội thăng tiến) nhằm tạo ra động lực nội tại bền vững.

Thứ ba, Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom (1964) mô tả mức độ nỗ lực thông qua hàm số Sức mạnh bằng Mức ham mê nhân với Niềm hy vọng. Khi viên chức tin tưởng rằng sự cố gắng sẽ tạo ra thành tích vượt trội và thành tích đó chắc chắn được đền đáp xứng đáng, động lực làm việc sẽ đạt mức tối đa. Ngoài ra, nghiên cứu còn kết hợp Thuyết công bằng của Stacy Adams và Thuyết tăng cường tích cực của Burrhus Frederic Skinner để hoàn thiện góc nhìn đánh giá.

Khung lý thuyết luận văn tập trung làm rõ các khái niệm cốt lõi: viên chức sự nghiệp công lập theo Luật Viên chức 2010, khái niệm động lực làm việc theo Steers và Porter (1983), cùng cơ chế tạo động lực thông qua đòn bẩy lợi ích vật chất và kích thích tinh thần trong khu vực công.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học với quy mô 250 phiếu khảo sát gửi đến toàn bộ 250 viên chức đang công tác tại 11 phòng chức năng và 9 cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị. Cỡ mẫu khảo sát 250 đối tượng tương ứng 100% tổng số viên chức toàn đơn vị, áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn thể nhằm đảm bảo tính đại diện tuyệt đối, loại bỏ hoàn toàn sai số chọn mẫu và phản ánh toàn diện thực trạng của từng vị trí việc làm.

Về phương pháp phân tích, tác giả kết hợp chặt chẽ giữa thống kê mô tả, phân tích tổng hợp dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2014 - 2018 và phương pháp so sánh đối chiếu. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác mức độ thỏa mãn của nhân viên theo từng nhóm nhu cầu Maslow, đồng thời kiểm chứng tính tương thích giữa kết quả khảo sát định lượng với hệ thống văn bản pháp lý hiện hành như Quyết định số 37/2012/QĐ-TTg về thí điểm cơ chế chi lương thu nhập và Quyết định số 1508/QĐ-BHXH về đánh giá phân loại cán bộ. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong khung thời gian 24 tháng để đảm bảo độ tin cậy khoa học cao nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực nghiệm và phân tích dữ liệu thứ cấp đã chỉ ra bốn phát hiện trọng tâm:

Một là, chế độ tiền lương và thu nhập chưa đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt tối thiểu trong điều kiện áp lực công việc gia tăng. Thu nhập bình quân của viên chức chỉ đạt từ 6 đến 8 triệu đồng/người/tháng. Dù đã áp dụng hệ số lương tăng thêm 1,8 lần và bổ sung thu nhập 0,2 lần, mức thù lao này vẫn không đủ để bù đắp sự hao phí lao động khi phải quản lý hàng triệu lượt hồ sơ an sinh, dẫn tới thực trạng 192 nhân sự xin nghỉ việc trong vòng 3 năm.

Hai là, nghịch lý giữa chất lượng nguồn nhân lực đầu vào rất cao nhưng mức độ kích thích động lực tinh thần lại chưa tương xứng. Cơ quan sở hữu 207 người có trình độ đại học và sau đại học (chiếm tỷ lệ 83%), 137 đảng viên (chiếm 55%), 67 cán bộ có trình độ lý luận chính trị cao cấp (chiếm 23,5%), cùng hơn 70% cán bộ đạt chuẩn ngoại ngữ và tin học (176 cán bộ ngoại ngữ, 165 cán bộ tin học). Tuy nhiên, cơ chế phân công nhiệm vụ còn mang tính sự vụ, thiếu tính đột phá để viên chức trình độ cao thể hiện năng lực tự chủ.

Ba là, công tác đánh giá, xếp loại viên chức còn tồn tại sự cào bằng. Mặc dù đã ban hành thang điểm đánh giá 4 mức theo Quyết định 1508/QĐ-BHXH và Quyết định 1525/QĐ-BHXH, việc đo lường tại các vị trí gián tiếp vẫn thiếu bộ chỉ số định lượng cụ thể. Nhiều trường hợp hoàn thành xuất sắc nhưng mức chi thưởng giấy khen chỉ dừng ở mức khoảng 300.000 đồng, chưa tạo ra giá trị kích thích tài chính có ý nghĩa.

Thảo luận kết quả

Khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, sự bất cập về chính sách tiền lương và công cụ đánh giá nhân sự luôn là nguyên nhân cốt lõi làm suy giảm động lực của cán bộ khu vực công. Khối lượng giải quyết quyền lợi cho 25.892 lượt người thụ hưởng và thanh toán 1.203 ngàn lượt bệnh nhân bảo hiểm y tế đã đẩy cường độ lao động của mỗi nhân viên lên mức giới hạn.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được minh họa sinh động thông qua biểu đồ hình cột thể hiện mối tương quan nghịch: một bên là chất lượng nhân sự với 83% đạt trình độ đại học trở lên, đối lập hoàn toàn với trục tung ghi nhận 192 người bỏ việc và mức thu nhập khiêm tốn 6 đến 8 triệu đồng. Bảng so sánh mức độ thỏa mãn các tầng nhu cầu Maslow cũng cho thấy tầng nhu cầu sinh học và nhu cầu an toàn tài chính bị đánh giá ở mức thấp nhất. Điều này lý giải vì sao dù môi trường làm việc thân thiện và tỷ lệ cán bộ có trình độ lý luận chính trị cao đạt 23,5%, tâm lý thờ ơ và hiện tượng chảy máu chất xám sang khu vực tư nhân vẫn diễn ra phức tạp tại địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp có tính hành động cao nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực cho đội ngũ viên chức:

Thứ nhất, tái cấu trúc cơ chế chi trả tiền lương và thu nhập tăng thêm. Ban Giám đốc và Phòng Kế toán - Tài chính cần xây dựng quy chế phân phối quỹ thu nhập tăng thêm theo hệ số 1,8 lần gắn liền với hiệu suất công việc thực tế, loại bỏ tình trạng phân chia bình quân; phấn đấu nâng mức thu nhập bình quân của viên chức lên 10 đến 12 triệu đồng/tháng trong giai đoạn quý 2 năm 2020 đến hết năm 2022.

Thứ hai, chuẩn hóa hệ thống đánh giá vị trí việc làm thông qua chỉ số đo lường hiệu suất. Phòng Tổ chức cán bộ chủ trì thiết lập bộ tiêu chuẩn định lượng cụ thể cho 100% các vị trí nghiệp vụ và hành chính gián tiếp, đảm bảo việc bình xét danh hiệu thi đua phản ánh chính xác kết quả đóng góp; hoàn thành việc thẩm định và áp dụng toàn diện trước quý 4 năm 2021.

Thứ ba, mở rộng kế hoạch quy hoạch, đào tạo và phát triển nghề nghiệp. Cấp ủy và Lãnh đạo cơ quan triển khai chương trình bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn, chuyển đổi số ngành bảo hiểm cho trên 80% cán bộ nguồn, tạo lộ trình thăng tiến công khai, minh bạch cho 207 viên chức có trình độ từ đại học trở lên trong giai đoạn 2021 - 2025.

Thứ tư, cải thiện điều kiện môi trường làm việc và hiện đại hóa công nghệ. Cơ quan BHXH tỉnh phối hợp Công đoàn đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin tại 9 huyện thị, giảm tải thủ tục hành chính thủ công, đồng thời xây dựng môi trường văn hóa công sở cởi mở, hướng tới mục tiêu đạt trên 95% mức độ hài lòng của nhân viên trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

Nhà quản lý và Lãnh đạo hệ thống Bảo hiểm xã hội: Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn để các cấp lãnh đạo tại các cơ quan bảo hiểm xã hội cấp tỉnh và cấp huyện nhận diện tâm lý người lao động, từ đó ban hành các chính sách quản trị nhân sự phù hợp nhằm giảm thiểu tỷ lệ biến động nhân sự.

Chuyên viên công tác Tổ chức - Cán bộ tại các đơn vị sự nghiệp công lập: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị trong việc xây dựng bản mô tả vị trí việc làm, thiết lập quy trình đánh giá xếp loại công chức viên chức không cào bằng và tối ưu hóa quỹ phúc lợi nội bộ.

Học viên cao học và Nghiên cứu sinh ngành Quản trị nhân lực, Quản lý công: Cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh kết hợp giữa mô hình Maslow, Herzberg và Vroom cùng bộ dữ liệu khảo sát 250 mẫu thực tế, phục vụ cho việc phát triển các đề tài nghiên cứu liên quan đến động lực khu vực công.

Chuyên gia hoạch định chính sách an sinh xã hội: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về đời sống và tâm tư của 250 viên chức ngành bảo hiểm, tạo luận cứ khoa học để tham mưu sửa đổi các quy định pháp luật về chế độ phụ cấp ngành và chính sách đãi ngộ cán bộ an sinh xã hội.

Câu hỏi thường gặp

Đâu là nguyên nhân chính khiến 192 viên chức tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị xin thôi việc trong giai đoạn 3 năm? Nguyên nhân trực tiếp xuất phát từ sự mất cân đối giữa áp lực nhiệm vụ khổng lồ và mức thu nhập thấp, bình quân chỉ 6 đến 8 triệu đồng/tháng. Khi khối lượng công việc phải xử lý hơn 1.203 ngàn lượt bảo hiểm y tế và hàng chục ngàn hồ sơ an sinh nhưng chế độ đãi ngộ không đủ trang trải nhu cầu cuộc sống, viên chức buộc phải rời bỏ tổ chức.

Khung lý thuyết Maslow được vận dụng như thế nào để giải quyết vấn đề của luận văn? Thuyết Maslow được dùng để bóc tách 5 tầng nhu cầu của 250 viên chức. Kết quả chứng minh khi nhu cầu vật chất nền tảng ở tầng 1 và tầng 2 chưa được đáp ứng thỏa đáng, tổ chức không thể kích hoạt nhu cầu cống hiến và sáng tạo ở tầng bậc cao, dù đơn vị có tới 83% nhân sự đạt trình độ đại học trở lên.

Tại sao công tác đánh giá xếp loại viên chức tại cơ quan vẫn chưa phản ánh chính xác năng lực thực tế? Do đặc thù của nhiều vị trí công tác quản lý và nghiệp vụ gián tiếp rất khó đo lường bằng sản phẩm cụ thể. Việc thực hiện theo Quyết định 1508/QĐ-BHXH còn nặng tính cảm tính và bình bầu luân phiên, mức khen thưởng thấp khoảng 300.000 đồng khiến công tác thi đua chưa trở thành đòn bẩy tạo động lực thực sự.

Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu trong luận văn có điểm gì nổi bật? Tác giả đã phát phiếu khảo sát đến toàn bộ 250 viên chức thuộc 11 phòng ban chuyên môn và 9 cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện trực thuộc. Việc điều tra trên 100% tổng thể giúp dữ liệu đạt độ chuẩn xác tuyệt đối, không bị sai số chọn mẫu và phản ánh chân thực nguyện vọng của từng cán bộ.

Giải pháp nào được đánh giá là cấp thiết nhất để nâng cao động lực cho viên chức trong ngắn hạn? Giải pháp cấp bách nhất là đổi mới cơ chế phân phối thu nhập tăng thêm theo hệ số 1,8 lần dựa trên kết quả hoàn thành nhiệm vụ thực tế của từng cá nhân, phấn đấu nâng thu nhập bình quân lên 10 đến 12 triệu đồng/tháng để ổn định đời sống cán bộ.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập dựa trên thang bậc nhu cầu Maslow, thuyết hai yếu tố Herzberg và thuyết kỳ vọng Vroom.
  • Nghiên cứu phản ánh thực trạng tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị, chỉ rõ sự mâu thuẫn giữa chất lượng nhân sự cao với 207 cử nhân, thạc sĩ (chiếm 83%) và tỷ lệ thôi việc lên tới 192 người do mức thu nhập chỉ từ 6 đến 8 triệu đồng/tháng.
  • Đề tài lượng hóa chính xác ý kiến đánh giá của 250 viên chức thông qua khảo sát toàn diện tại 11 phòng ban và 9 đơn vị trực thuộc.
  • Hệ thống giải pháp đồng bộ được đề xuất bao gồm cải cách chi trả thu nhập tăng thêm 1,8 lần, chuẩn hóa tiêu chí đánh giá KPI và nâng cao chất lượng môi trường làm việc.
  • Lộ trình triển khai giải pháp được hoạch định rõ ràng từ giai đoạn 2021 - 2025 với tầm nhìn chiến lược đến năm 2030.

Lãnh đạo các đơn vị sự nghiệp công lập và các nhà nghiên cứu hãy vận dụng ngay khung giải pháp từ công trình này để tái cấu trúc chính sách nhân sự, kiến tạo môi trường làm việc hạnh phúc và nâng cao hiệu suất phụng sự cộng đồng.