CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lý thuyết về động lực và các khái niệm liên quan đến tạo động lực làm việc Mỗi hoạt động của con người hướng vào những cái đích nhất định, khi tham gia vào quá trình sản xuất có nghĩa là họ muốn thỏa mãn một nhu cầu, mong muốn nào đó, có thể là nhu cầu về vật chất hoặc nhu cầu về tinh thần. Việc không ngừng thỏa mãn những nhu cầu của con người là một trong những nhân tố quan trọng để làm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm. Con người không chỉ khác nhau về khả năng hành động mà còn khác nhau về ý chí và hành động hay sự thúc đẩy. Sự thúc đẩy con người làm việc phụ thuộc vào sức mạnh của động cơ.
Động cơ lao động của con người lại xuất phát từ mong muốn thõa mãn các nhu cầu thiết yếu cơ bản của người lao động như: nhu cầu ăn mặc, đi lại, phát triển, được tôn trọng…Điều đó có ý nghĩa là việc quản lý và đánh giá nhân viên cần dựa trên cơ sở chú trọng tạo động lực trong lao động, vậy động lực và động lực lao động được hiểu như thế nào? Động lực Động lực là một thuật ngữ được sử dụng rất nhiều. Trong kinh tế, động lực được định nghĩa theo nhiều khía cạnh khác nhau: Theo từ điển tiếng việt: động lực được hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển. “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và sự lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình” (Mitchell, 1999). Từ những định nghĩa trên ta có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực như sau: Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích động viên con người thực hiện hành vi theo mục tiêu.
SVTH: BÙI THỊ NGỌC TRÂM 9 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TH. TRƯƠNG THỊ HƯƠNG XUÂN Động lực lao động Có nhiều khái niệm về động lực làm việc, mỗi khái niệm đều có những quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung đều nói lên được bản chất của động lực làm việc. Theo giáo trình quản trị nhân lực: “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường sự nổ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Người lao động khi có động lực thúc đẩy họ thì họ sẽ có thể làm việc hết với những khả năng của mình họ sẽ cố gắng vươn tới những điều mà họ muốn, có thể là thăng tiến trong công việc hay có thể tăng thu nhập để đảm bảo cuộc sống gia đình, nâng cao cuộc sống vật chất trong sinh hoạt hằng ngày.
Theo giáo trình hành vi tổ chức thì: “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nổ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động.TS Bùi Anh Tuấn (2003), Giáo trình Hành vi tổ chức). Như vậy có thể nói động lực lao động là những nhân tố thôi thúc con người làm việc có hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức đồng thời cũng là để thoã mãn mong muốn của bản thân người lao động. Nó không chỉ chịu ảnh hưởng bởi bản thân người lao động mà còn chịu ảnh hưởng lớn bởi những hoạt động quản lý nhân sự trong một tổ chức.
Bản chất của động lực lao động được thể hiện qua nhiều khía cạnh: Thứ nhất, động lực lao động luôn gắn liền với một công việc cụ thể, một tổ chức, một môi trường làm việc cụ thể, không tồn tại động lực chung chung không gắn với một công việc cụ thể nào. Như vậy phải hiểu rõ công việc và môi trường làm việc thì mới có thể đưa ra biện pháp tạo động lực làm việc cho người lao động. Thứ hai, động lực lao động mang tính tự nguyện. Bản thân mỗi người lao động sẽ tự nguyện cảm thấy được nổ lực làm việc tuỳ từng lúc mà họ cảm thấy thoải mái, hứng thú.
Bản chất của con người là thích được chủ động trong mọi công việc chứ không thích bị động. Dĩ nhiên, trong một tổ chức sự chủ động của cá nhân phải ở trong khuôn khổ. Và người quản lý phải biết rõ đặc điểm này để có thể phát huy được động lực làm SVTH: BÙI THỊ NGỌC TRÂM 10 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TH. TRƯƠNG THỊ HƯƠNG XUÂN việc một cách hiệu quả nhất.
Phải có nghệ thuật để tăng cường tính tự nguyện của người lao động. Thứ ba, động lực lao động không phải là cố hữu trong bản thân mỗi người, nó thường xuyên thay đổi. Không ai sinh ra mà đã có sẵn động lực lao động cũng như không có động lực lao động. Vào thời điểm này, động lực lao động cao nhưng có lúc động lực lao động lại thấp và chưa hẳn đã tồn tại trong bản thân người lao động.
Chính nhờ đặc điểm này mà nhà quản lý có thể can thiệp, tác động vào người lao động để họ có thể phát huy được nỗ lực của mình. Thứ tư, động lực lao động là nguồn gốc dẫn đến sự tăng năng suất lao động cá nhân và sản xuất có hiệu quả trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi. Động lực lao động giống như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ làm việc hăng say, nổ lực hơn, làm việc không biết mệt mỏi. Tuy nhiên, phải hiểu rằng động lực là một nhân tố chứ không phải là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Vì điều này còn phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, tay nghề của người lao động và cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc… Người lao động dù không có động lực lao động thì cũng có thể hoàn thành công việc được giao, vẫn có thể đạt được yêu cầu của nhà quản lý, bởi trong họ vẫn có trách nhiệm với công việc, có trình độ, có tay nghề và có nghĩa vụ phải làm. Họ làm việc theo quán tính và khả năng. Nhưng khi đó, kết quả công việc lại không phản ánh đúng được khả năng của họ. Khi làm việc có động lực, không những công việc được hoàn thành mà họ còn làm được tốt hơn rất nhiều.
Có thể là hoàn thành công việc sớm hơn thời hạn, có thể làm việc vượt qua chỉ tiêu đề ra. Lúc này, khả năng tiềm ẩn của họ được bộc lộ và chính điều này sẽ giúp doanh nghiệp phát triển, trở nên vững mạnh, tạo được thế cạnh tranh trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay.2 Tạo động lực làm việc Sự cần thiết phải tạo động lực Tạo động lực làm việc cho nhân viên là chìa khoá để cải thiện kết quả làm việc. “Bạn có thể đưa con ngựa ra tới tận bờ sông nhưng không thể bắt nó uống nước. Ngựa chỉ uống khi khát – và con người cũng vậy.” Con người chỉ làm việc khi người ta muốn hoặc được động viên để làm việc.
Cho dù có cố gắng tỏ ra nổi trội trong công SVTH: BÙI THỊ NGỌC TRÂM 11 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TH. TRƯƠNG THỊ HƯƠNG XUÂN việc hay thu mình trong tháp ngà, người ta cũng chỉ hành động do bị điều khiển hoặc được động viên bởi chính bản thân hay từ các nhân tố bên ngoài. Nói tóm lại việc xây dựng hoạt động tạo động lực trong công ty nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty, tạo ra đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, và đạt được mục tiêu xã hội đó là: phát triển con người. Tạo động lực làm việc Mỗi người lao động làm việc đều có những lý do khác nhau.
Người lao động đều làm việc bởi họ có thể có được những thứ mà họ cần từ công việc. Những thứ mà người lao động dành được từ công việc có ảnh hưởng tới tinh thần, động lực làm việc và chất lượng cuộc sống của họ. Điều mà nhà quản lý cần làm là sử dụng các động lực để thúc đẩy mọi người thực hiện nhiệm vụ một cách có hiệu quả cho doanh nghiệp nơi họ làm việc. Một tổ chức muốn làm việc có hiệu quả và thành công thì cần phải kích thích và thỏa mãn được sự nổ lực của mọi người để đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả.
Tạo động lực cho người lao động là việc dùng những biện pháp nhất định để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả hơn trong công việc. Theo giáo trình hành vi tổ chức thì: “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc.TS Bùi Anh Tuấn (2003), Giáo trình hành vi tổ chức). Tạo động lực trong lao động sẽ giúp cho người lao động có khả năng tăng năng suất lao động cá nhân, kích thích tính sáng tạo của người lao động và tăng sự gắn bó của người lao động với công việc, với tổ chức. Đồng thời, công tác tạo động lực sẽ giúp cho tổ chức, doanh nghiệp có được một đội ngũ lao động giỏi, tâm huyết với công việc từ đó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Tạo động lực cũng chính là tạo sự hấp dẫn của công việc, của kết quả thực hiện công việc, của tiền lương, tiền thưởng…Sự hấp dẫn càng lớn thì lợi ích đem lại cho người lao động càng lớn, khi đó người lao động càng hăng say làm việc để có thể đạt được lợi ích đó. Khi người lao động cảm thấy sự hấp dẫn trong công việc, họ làm việc một cách tự nguyện nhiệt tình do đó các nhà quản trị cần quan tâm tạo động lực cho SVTH: BÙI THỊ NGỌC TRÂM 12 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TH. TRƯƠNG THỊ HƯƠNG XUÂN người lao động để hướng hành vi của người lao động theo một chiều hướng quỹ đạo nhất định. Như vậy, có thể coi vấn đề tạo động lực lao động là vấn đề thuộc về sự chủ động của tổ chức.
Để có thể tạo động lực làm việc cho người lao động thì tổ chức phải xem xét sẽ phải đưa ra chính sách nào để thúc đẩy động lực làm việc của người lao động, sẽ phải tạo ra môi trường làm việc, môi trường giao tiếp như thế nào để người lao động cảm thấy thoải mái nhất và có động lực làm việc cao nhất.