PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài: Những năm 2005 trở về trước các doanh nghiệp Nhà nước trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ gần như là những doanh nghiệp độc quyền. Sản phẩm của các doanh nghiệp chủ yếu là các sản phẩm công ích. Sau khi có những thay đổi trong chính sách, thay đổi của Nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân được Nhà nước cấp phép hoạt động trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ.
Số lượng cCác doanh nghiệp thành lập hoạt động trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ tăng nhanh.039 doanh nghiệp được cấp phép. Có thể thấy trước đây người lao động ít có điều kiện để lựa chọn, so sánh các điều kiện làm việc và thu nhập giữa đơn vị mình làm với các đơn vị khác trong cùng lĩnh vực hoạt động, nên người lao động luôn có tư tưởng gắn bó với công việc và ít có sự thay đổi, biến động về nhân lực tại các doanh nghiệp. Hiện nay, nhằm thu hút những lao động có tay nghề cao, đồng thời môi trường kinh doanh thay đổi kéo theo sự cạnh tranh thực sự về sản phẩm cũng như cạnh tranh để thu hút và giữ ổn định nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực làm việc ngoài thực địa giữa các doanh nghiệp nNhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Người lao động có xu thế rời bỏ doanh nghiệp bất kỳ lúc nào khi họ có sự lựa chọn công việc tốt hơn và họ không còn động lực để gắn bó và tiếp tục làm việc tại doanh nghiệp.
Công ty Địa chính, Tư vấn và Dịch vụ đất đai được thành lập theo Quyết định số 468/QĐ-BTNMT ngày 27/02/2010 của Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. Là một doanh nghiệp Nhà nước, Công ty có chức năng thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tư vấn, dịch vụ trong các lĩnh vực: đất đai, bất động sản, môi trường, đo đạc, bản đồ và một số lĩnh vực khác trên phạm vi cả nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật. Công ty có 6 đơn vị trực thuộc gồm: Xí nghiệp Đầu tư và Kinh doanh bất động sản; Xí nghiệp Địa chính; Xí nghiệp Địa hình; Trung tâm Kỹ thuật Công nghệ Môi trường; Trung tâm Quy hoạch - Tư vấn và Dịch vụ đất đai; Trung tâm Địa chính đô thị phía Bắc. Các Xí nghiệp và Trung tâm đều là đơn vị hạch toán phụ thuộc Công ty nên có chức năng và nhiệm vụ như nhau tuân theo chức năng, nhiêm vụ của Công ty.
Hiện công ty có 563 lao động tính đến hết năm 2013, trong đó lao động tại văn phòng chiếm 5,7%; lao động hành chính tại các xí nghiệp và trung tâm chiếm 6,7%; lao động trực tiếp sản xuất chiếm 87,6% (493 người). Trong vài năm trở lại đây, Công ty có nhiều lao động là kỹ sư có trình độ, kinh 2 nghiệm, tay nghề cao (lao động nhân viên thực địa) chuyển sang doanh nghiệp khác làm việc đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện kế hoạch và sự phát triển bền vững của Công ty. Nguyên nhân ở đây được cho là người lao động rời bỏ đơn vị để chuyển sang doanh nghiệp khác vì vấn đề thu nhập, điều kiện làm việc, các chế độ đãi ngộ đối với người lao động không còn hấp dẫn. Để giữ được người lao động tiếp tục ở lại làm việc với Công ty, gắn bó với Công ty là vấn đề đặt ra đòi hỏi Công ty phải đưa ra được những chính sách phù hợp với xu thế trong môi trường kinh tế hiện nay.
Muốn đạt được các mục tiêu kế hoạch đề ra của Công ty, Công ty phải kết hợp và sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó không thể không chú trọng đến nguồn lực là con người, đặc biệt là lực lượng làm việc ngoài thực địa mang lại doanh thu và lợi nhuận cho Công ty. Điều đó sẽ tạo ra năng suất lao động rất cao góp phần đạt được các mục tiêu sản xuất kinh doanh và sự ổn định của Công ty. Trong khi đó, người lao động không phải ai cũng có những nhu cầu giống nhau trong cùng một công việc. Nhiều người không chỉ có nhu cầu về thu nhập từ đồng lương, thưởng mà họ còn có các lý do, nhu cầu khác nữa để họ có động lực hăng say, nhiệt tình làm việc và gắn bó với Công ty.
Một số công trình nghiên cứu đã từng định nghĩa: “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” (Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Thị Vân Điềm, năm 2012). Hay “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lựưc, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” (Bùi Anh Tuấn, Phạm Thuý Hương, năm 2011). Thực tế, công tác tạo động lực ở Công ty Địa chính, Tư vấn và Dịch vụ đất đai đã và đang được thực hiện.
Chế độ thi đua khen thưởng, chế độ tiền thưởng: cuối năm 2012, 2013 cho người lao động là 6 triệu/người, các chế độ thăm hỏi ốm đau, hiếu, hỷ. Tuy nhiên, việc thực hiện một số chính sách vẫn chưa phù hợp và kịp thời. Ví dụ về chế độ khen thưởng, trong quá trình sản xuất có một số lao động sản xuất ở thực địa có những sáng kiến cải tiến kỹ thuật đã làm tăng năng xuất lao động, làm tăng doanh thu và lợi nhuận…cho Công ty. Nhưng đến cuối năm Công ty mới tiến hành công tác tổng kết và khen thưởng, mức khen thưởng còn chưa tương xứng với những những gì từ các sáng kiến đó đã mang lại lợi ích cho Công ty.
Kết quả là năm 2013, số lao động đã tuyển dụng cho khối sản xuất là 764 lao động; Số lao động xin nghỉ việc và tự ý bỏ việc thuộc khối sản xuất là 726 lao động (Trích báo cáo …tổng kết Công ty năm 3 2013). Với một doanh nghiệp có số lao động sản xuất ở thực địa chiếm gần 90% trên tổng số lao động trong Công ty, nghiên cứu vấn đề quản lý nhân lực ở bộ phận này nhằm làm tăng năng xuất lao động và sự ổn định của Công ty là thực sự cấp thiết. Đề tài nghiên cứu "Tạo động lực làm việc cho nhân viên thực địa tại Công ty Địa chính, Tư vấn và Dịch vụ đất đai" xin được đề xuất thực hiện trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ quản lý điều hành. Đề tài này được thực hiện mang lại cả ý nghĩa về mặt lý luận lẫn thực tiễn về tạo động lực cho nhân viên thực địa.
Mục tiêu nghiên cứu: Việc nghiên cứu đề tài này nhằm những mục tiêu như sau: - Hệ thống hóa lý luận cơ bản về động lực cho người lao động và các công tác tạo động lực cho nhân viên thực địa. - Nhận biết những động lực mong muốn chủ đạo của nhân viên thực địa. - Phân tích thực trạng và mức độ hài lòng của người lao động đối với công tác tạo động lực của Công ty cho nhân viên thực địa. - Xác định một giải pháp nâng cao động lực cho nhân viên thực địa.
Đối tượng và nội dung nghiên cứu: - Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về công tác tạo động lực cho người lao động. - Nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu hoạt động của Công ty trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2013. Người lao động là nhân viên thực địa ở Công ty Địa chính, Tư vấn và Dịch vụ đất đai. Theo lý thuyết về tạo động lực cho người lao động, các yếu tố tạo động lực cho người lao động bao gồm: * Các yếu tố thuộc về môi trường trong tổ chức như: văn hóa của tổ chức, kiểu lãnh đạo, cấu trúc của tổ chức, các chính sách về nhân sự và sự thực hiện các chính sách đó.
* Các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động như: nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị… Với thực trạng của Công ty Địa chính, Tư vấn và Dịch vụ đất đai hiện nay, em chọnluận văn này đề cập đến cả năm 5 nội dung của công tác tạo động lực, gồm: để 4 nghiên cứu: + Chính sách lương , thưởng; + Phúc lợi và chế độ phúc lợi; + Các chính sách về quản lý nhân sự và đề bạt; + Chính sách khen thưởng và kỷ luật; + Điều kiện làm việc. Phương pháp nghiên cứu 4. Nguồn số liệu và phương pháp thu thập - Số liệu thứ cấp: Phương pháp nghiên cứu bàn hệ thống hóa thu thập thập từ các báo cáo tổng kết và báo cáo tài chính các năm 2010, 2011, 2012, 2013 của Công ty; Các quy chế của Công ty. - Số liệu sơ cấp: + Điều tra mẫu bằng bảng hỏi phân tích số liệu định lượng: Số người hỏi 100 là các nhân viên thực địa làm việc ở Công ty; Nội dung hỏi về: Tiền lương; Chế độ phúc lợi (tiền thưởng các ngày lễ tết, tham quan nghỉ mát, chế độ thăm hỏi ốm đau…); Khen thưởng, kỷ luật; Bổ nhiệm, đề bạt; Điều kiện làm việc.
Phiếu khảo sát được phát cho các nhân viên ở 12 tổ hiện đang làm việc tạilàm ở các công trình ở mọi miền đất nước: Phú Yên, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Bắc Kạn. Nhân viên điều tra đang làm việc tại các công trình ở các tỉnhPhần lớn các đội này ở các vùng miền núi vùng sâu, vùng xa, địa hình đi lại khó khăn. Giới tính chủ yếu là nam giới, phần lớn có độ tuổi từ 23 đến 30 tuổi. + Phỏng vấn sâu phân tích định tính: Phỏng vấn Giám đốc Công ty và Chủ tịch Công đoàn Công ty về công tác tạo động lực cho người lao động mà công ty đã thực hiện.
Nội dung phỏng vấn: Các chính sách Công ty đã và đang thực hiện để tạo động lực cho các nhân viện thực địa; Các giải pháp của Công ty nhằm thu hút và giữ người lao động có trình độ, tay nghề đến và ở lại làm việc gắn bó với Công ty. - Các số liệu thống kê được thu thập thông qua các tài liệu thống kê, báo cáo đã được công bố trong Công ty. Các số liệu khảo sát được thu thập thông qua điều tra chọn mẫu bằng phương pháp bảng hỏi 100 lao động làm việc trong các bộ phận trực tiếp sản xuấtở Công ty Địa chính, Tư vấn và Dịch vụ đất đai.Phỏng vấn Giám đốc và Chủ tịch Công đoàn Công ty. Xử lý và phân tích - Phân tích mô tả tương quan.
- Phân tích Sso sánh.