CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Téng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trong nước. Hiện nay công tác tạo động lực cho người lao động tại Việt Nam đã được chú ý nghiên cứu và tổng kết thực tiễn.
Sau đây là một số công trình có liên quan đến đề tài luận văn ở trong nước. Tác phẩm “Quản trị nguồn nhân lực” của Trần Kim Dung (2011) đã chỉ rõ những tác động của các công cụ tạo động lực thúc day đối với người lao động làm việc ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vao việc tô chức, đơn vị áp dụng các công cụ đó như thế nào. Nghiên cứu của Trương Minh Đức về “tao động lực làm việc tại công ty TNHH Ericsson tại Việt Nam” (tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 27(2011), trang 240-247) van đề tuyển dụng và bố trí sử dụng đúng người, đúng việc là quan trọng nhưng khuyến khích, động viên, tạo động lực cho nhân viên phát huy tối đa khả năng trí tuệ của bản thân mới là vấn đề then chốt nhất trong việc sử dụng lao động. ĐỀ tạo động lực làm việc cho nhân viên, nhà quản lý cần phải thấu hiểu nhu cầu làm việc của nhân viên, họ làm vi cái gì, điều gì thúc day ho làm việc hăng say dé từ đó có cách thức tác động phù hợp.
Nghiên cứu cho thấy có 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tạo động lực làm việc của nhân viên; thứ nhất là nhu cầu vật chất của cuộc sống thông qua nhu cầu tăng lương và các thu nhập khác ngoài lương; thứ hai là điều kiện cơ sở vật chất làm việc của nhân viên, mối quan hệ VỚI đồng nghiệp, vi tri trong tô chức; thứ ba là nhu cầu được thê hiện năng lực bản thân như muôn có cơ hội được học tập phát triên chuyên môn, mong muốn có cơ hội thăng tiến dé thé hiện năng lực cảu bản thân, được chủ động trong công việc, và có công việc phù hợp dé phát huy chuyên môn nghiệp vu và nhu cầu phát triển các mối quan hệ trong tổ chức như mối quan hệ với lãnh đạo, với khách hàng.Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Toàn “Các yếu to ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên tại ngân hàng TMCP Á Châu- Chỉ nhánh Huế” (Tạp chí khoa học, Đại học Huế, số 60, 2010) thí có 5 yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên, đó là: Môi trường làm việc, lương bồng và phúc lợi, cách thức bé trí công việc; sự hứng thú trong công việc; và triển vọng phát triển. Hầu hết các nhân viên phòng kinh doanh đều hài lòng với các yếu tố này của Ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cũng cho thay một số khiếm khuyết trong công tác quản trị nhân sự mà ngân hàng cần quan tâm giải quyết. Nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Minh Thu và Lê Nguyễn Đoan Khôi về “các nhân tô anh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên trực tiếp sản xuất ở Tổng công ty lap máy Việt Nam (Lilama)” (Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số 35 , 2014, trang 66-67) trong hoạt động kinh doanh ở Lilama có nhiều nhân tổ tham gia vào hệ thống quản lý như vật chất, kinh té, văn hoá, thông tin,.
nhưng con người vẫn là yếu tố hàng đầu. Nghiên cứu đã tiến hành phân tích kết quả thu thập từ quan sát, kiêm định độ tin cậy của thang đo và phân tích nhân tố. Sau đó phân tích tương quan, hồi quy tuyến tính, nghiên cứu đã phát hiện 07 nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên trực tiếp sản xuất Lilama là: văn hoá doanh nghiệp, công việc, cơ hội đảo tạo và phát triển, điều kiện làm việc, lương và chế độ phúc lợi, mối quan hệ với đồng nghiệp, mối quan hệ lãnh đạo. Trong đó, lương và chế độ phúc lợi với văn hoá doanh nghiệp là yếu tô tác động mạnh nhất.
Hai tác giả Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Thị Quỳnh nghiên cứu “các nhân tô ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên trong các doanh nghiệp có vốn dau tư nước ngoài ở Đồng Nai” (Tạp chí Khoa hoc Lạc Hồng, tập 1, số 1 (2014), trang 12-19). Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 nhân tố tác động đến động lực làm việc của nhân viên theo mức độ quan trọng thấp dần bao gồm: lãnh đạo và thăng tiến nghề nghiệp, xử lý kỷ luật khéo léo, thu nhập, điều kiện làm việc, hỗ trợ từ đồng nghiệp, công việc thú vỊ. Nghiên cứu của tác giả Lê Thái Phong tại Hà Nội về “các nhân to tác động lên sự hài lòng của nhân viên bằng cách diéu tra người dang làm việc tại các doanh nghiệp Hà Nội” (tạp chí Kinh tế & Phát triển số 219, tháng 9/2015), chỉ ra rằng sự hài lòng của nhân viên là tổ hợp của 4 yếu tố bao gồm tính chất công việc, tiền lương và phúc lợi, đào tạo và thăng tiễn, và quan hệ công việc. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài Có nhiều quan điểm khác nhau về động lực làm việc và khăng định tạo động lực cho nhân viên giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Một vài tài liệu đề cập đến hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tạo động lực: nhóm yếu tố thuộc bản thân nhân viên và nhóm yếu tố môi trường. Các nhà nghiên cứu còn chỉ ra rằng tiếp cận với tạo động lực theo hai cách khác nhau: các học tuyết về nội dung (của Maslow, Herzberg) chỉ ra cách tiếp cận với các nhu cầu của lao động quản lý; nhóm học thuyết về quá trình (của Adams, Vroom) tìm hiểu lý do mà mỗi người thể hiện hành động khác nhau trong công việc. Vận dụng các học thuyết trên, một vài nghiên cứu chỉ ra các yếu tố tạo động lực và cách thực hiện. Kovach (1987) chỉ ra 10 yếu tố ảnh hưởng đến động lực, trong đó công việc thích thú cảng quan trọng khi thu nhập tăng, còn lương cao quan trọng hơn trong nhóm có thu nhập thấp.
Theo Jaggi (1979) nghiên cứu về các nhà quản lý Ấn Độ cho răng khả năng và kinh nghiệm tác động rất lớn tới động lực làm việc của nhân viên, những người có khả năng và kinh nghiệm càng cao thì càng quan tâm thỏa mãn nhu cầu được tôn trọng và tự chủ trong công việc. Dé phát huy được khả năng và kinh nghiệm cần giao công việc phù hợp với khả nang, sở trường, phân định trách nhiệm rõ ràng dé phát huy hết những lợi thế của nhân viên. Theo Andrew Oswald, trong tác phẩm “Are you Happy at work, 2001”, động cơ thúc day người lao động làm việc là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu mong muốn, giá trị và tính cách của người lao động thì người lao động càng có động cơ, động lực làm việc càng cao.
Năm 2007, Boeve đã tiến hành cuộc nghiên cứu về “các yếu tổ tạo động luc của các giảng viên khoa dao tạo trợ ly bác sỹ ở các trường Y tại Mỹ” trên cơ sở sử dụng lý thuyết hai nhân tố Herzberg. Ông chia nhân tố tạo động lực làm hai nhóm: Nhóm nhân tổ nội tại gồm bản chất công việc, cơ hội đảo tạo và thăng tiến và nhóm nhân tố bên ngoài gồm lương, sự hỗ trợ của cấp trên và mối quan hệ nhất định với tạo động lực làm việc. Tổng hợp lại, LV có sự kế thừa chọn lọc các công trình trên. Tuy nhiên đề tài của LV không bị trùng lắp với các công trình đã công bố.
Cơ sở lý luận về tạo động lực cho người lao động 12. Những khái niệm cơ bản về tạo động lực làm việc 1. Nhu cầu Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh than đề tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường song, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.
Nhu câu là cảm giác thiêu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Nhu cầu là yếu tô thúc day con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao. Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chỉ phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cau).
Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận. Về mặt quản lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân. Nhu cầu là tính chất của cơ thể song, biéu hién trang thai thiéu hut hay mat cân bang của chính cá thé đó va do đó phân biệt nó với môi trường sống.
Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiễn hóa. Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời song, xã hội. Có nhiều cách phân loại về nhu cầu.
Căn cứ vào tính chất ta có nhu cầu tự nhiên và nhu cau xã hội; Căn cứ theo đối tượng thỏa mãn nhu cầu ta có nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần; Căn cứ vào mức độ, khả năng thỏa mãn thì nhu cầu bao gồm: nhu cầu bậc thấp (gọi là nhu cầu sinh lý cơ thể), nhu cầu bậc trung là nhu cầu vận động và nhu cầu bậc cao nhất (gọi là nhu cầu sáng tạo). Nhu cầu vận động và nhu cầu sáng tạo là hai hệ thống nhu cầu khó thỏa mãn hơn, song nếu biết định hướng thì có thể tạo ra động cơ mạnh mẽ thúc đây người tham gia lao động và sáng tạo ra ngày càng nhiều giá trị cho tổ chức. Nhìn chung, trong ba cách phân loại trên thì mỗi phương pháp phân loại có ưu và khuyêt điêm riêng liên quan đên nhu câu của người lao động.