mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn đƣợc chia làm bốn chƣơng bao gồm: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận tạo động lực cho ngƣời lao động Chƣơng 2: Phƣơng pháp luận và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng tạo động lực cho ngƣời lao động tại ngân hàng Ngoại Thƣơng Việt Nam – chi nhánh Thanh Xuân Chƣơng 4: Giải pháp tạo động lực cho ngƣời lao động tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thƣơng- CN Thanh Xuân 3 (LUAN.xuan TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.xuan CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trong nước. Hiện nay công tác tạo động lực cho ngƣời lao động tại Việt Nam đã đƣợc chú ý nghiên cứu và tổng kết thực tiễn.
Sau đây là một số công trình có liên quan đến đề tài luận văn ở trong nƣớc. Tác phẩm “Quản trị nguồn nhân lực” của Trần Kim Dung (2011) đã chỉ rõ những tác động của các công cụ tạo động lực thúc đẩy đối với ngƣời lao động làm việc ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào việc tổ chức, đơn vị áp dụng các công cụ đó nhƣ thế nào. Nghiên cứu của Trƣơng Minh Đức về “tạo động lực làm việc tại công ty TNHH Ericsson tại Việt Nam” (tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 27(2011), trang 240-247) vấn đề tuyển dụng và bố trí sử dụng đúng ngƣời, đúng việc là quan trọng nhƣng khuyến khích, động viên, tạo động lực cho nhân viên phát huy tối đa khả năng trí tuệ của bản thân mới là vấn đề then chốt nhất trong việc sử dụng lao động. Để tạo động lực làm việc cho nhân viên, nhà quản lý cần phải thấu hiểu nhu cầu làm việc của nhân viên, họ làm vì cái gì, điều gì thúc đẩy họ làm việc hăng say để từ đó có cách thức tác động phù hợp.
Nghiên cứu cho thấy có 3 nhóm nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ tạo động lực làm việc của nhân viên; thứ nhất là nhu cầu vật chất của cuộc sống thông qua nhu cầu tăng lƣơng và các thu nhập khác ngoài lƣơng; thứ hai là điều kiện cơ sở vật chất làm việc của nhân viên, mối quan hệ với đồng nghiệp, vị trí trong tổ chức; thứ ba là nhu cầu đƣợc thể hiện năng lực bản thân nhƣ muốn có cơ hội đƣợc học tập phát triển chuyên môn, mong 4 (LUAN.xuan TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.xuan muốn có cơ hội thăng tiến để thể hiện năng lực cảu bản thân, đƣợc chủ động trong công việc, và có công việc phù hợp để phát huy chuyên môn nghiệp vụ và nhu cầu phát triển các mối quan hệ trong tổ chức nhƣ mối quan hệ với lãnh đạo, với khách hàng.Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Toàn “Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên tại ngân hàng TMCP Á Châu- Chi nhánh Huế” (Tạp chí khoa học, Đại học Huế, số 60, 2010) thí có 5 yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của nhân viên, đó là: Môi trƣờng làm việc, lƣơng bổng và phúc lợi, cách thức bố trí công việc; sự hứng thú trong công việc; và triển vọng phát triển. Hầu hết các nhân viên phòng kinh doanh đều hài lòng với các yếu tố này của Ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy một số khiếm khuyết trong công tác quản trị nhân sự mà ngân hàng cần quan tâm giải quyết. Nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Minh Thu và Lê Nguyễn Đoan Khôi về “các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên trực tiếp sản xuất ở Tổng công ty lắp máy Việt Nam (Lilama)” (Tạp chí khoa học Trƣờng Đại học Cần Thơ, số 35 , 2014, trang 66-67) trong hoạt động kinh doanh ở Lilama có nhiều nhân tố tham gia vào hệ thống quản lý nhƣ vật chất, kinh tế, văn hoá, thông tin,.
nhƣng con ngƣời vẫn là yếu tố hàng đầu. Nghiên cứu đã tiến hành phân tích kết quả thu thập từ quan sát, kiểm định độ tin cậy của thang đo và phân tích nhân tố. Sau đó phân tích tƣơng quan, hồi quy tuyến tính, nghiên cứu đã phát hiện 07 nhân tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của nhân viên trực tiếp sản xuất Lilama là: văn hoá doanh nghiệp, công việc, cơ hội đào tạo và phát triển, điều kiện làm việc, lƣơng và chế độ phúc lợi, mối quan hệ với đồng nghiệp, mối quan hệ lãnh đạo. Trong đó, lƣơng và chế độ phúc lợi với văn hoá doanh nghiệp là yếu tố tác động mạnh nhất.
Hai tác giả Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Thị Quỳnh nghiên cứu “các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên trong các doanh 5 (LUAN.xuan TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.xuan nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Đồng Nai” (Tạp chí Khoa học Lạc Hồng, tập 1, số 1 (2014), trang 12-19). Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 nhân tố tác động đến động lực làm việc của nhân viên theo mức độ quan trọng thấp dần bao gồm: lãnh đạo và thăng tiến nghề nghiệp, xử lý kỷ luật khéo léo, thu nhập, điều kiện làm việc, hỗ trợ từ đồng nghiệp, công việc thú vị. Nghiên cứu của tác giả Lê Thái Phong tại Hà Nội về “các nhân tố tác động lên sự hài lòng của nhân viên bằng cách điều tra người đang làm việc tại các doanh nghiệp Hà Nội” (tạp chí Kinh tế & Phát triển số 219, tháng 9/2015), chỉ ra rằng sự hài lòng của nhân viên là tổ hợp của 4 yếu tố bao gồm tính chất công việc, tiền lƣơng và phúc lợi, đào tạo và thăng tiến, và quan hệ công việc. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài Có nhiều quan điểm khác nhau về động lực làm việc và khẳng định tạo động lực cho nhân viên giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Một vài tài liệu đề cập đến hai nhóm yếu tố ảnh hƣởng đến tạo động lực: nhóm yếu tố thuộc bản thân nhân viên và nhóm yếu tố môi trƣờng. Các nhà nghiên cứu còn chỉ ra rằng tiếp cận với tạo động lực theo hai cách khác nhau: các học tuyết về nội dung (của Maslow, Herzberg) chỉ ra cách tiếp cận với các nhu cầu của lao động quản lý; nhóm học thuyết về quá trình (của Adams, Vroom) tìm hiểu lý do mà mỗi ngƣời thể hiện hành động khác nhau trong công việc. Vận dụng các học thuyết trên, một vài nghiên cứu chỉ ra các yếu tố tạo động lực và cách thực hiện. Kovach (1987) chỉ ra 10 yếu tố ảnh hƣởng đến động lực, trong đó công việc thích thú càng quan trọng khi thu nhập tăng, còn lƣơng cao quan trọng hơn trong nhóm có thu nhập thấp.
Theo Jaggi (1979) nghiên cứu về các nhà quản lý Ấn Độ cho rằng khả năng và kinh nghiệm tác động rất lớn tới động lực làm việc của nhân viên, những ngƣời có khả năng và kinh nghiệm càng 6 (LUAN.xuan TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.xuan cao thì càng quan tâm thỏa mãn nhu cầu đƣợc tôn trọng và tự chủ trong công việc. Để phát huy đƣợc khả năng và kinh nghiệm cần giao công việc phù hợp với khả năng, sở trƣờng, phân định trách nhiệm rõ ràng để phát huy hết những lợi thế của nhân viên. Theo Andrew Oswald, trong tác phẩm “Are you Happy at work, 2001”, động cơ thúc đẩy ngƣời lao động làm việc là mức độ ngƣời nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của ngƣời nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trƣờng làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trƣờng làm việc càng đáp ứng đƣợc các nhu cầu mong muốn, giá trị và tính cách của ngƣời lao động thì ngƣời lao động càng có động cơ, động lực làm việc càng cao.
Năm 2007, Boeve đã tiến hành cuộc nghiên cứu về “các yếu tố tạo động lực của các giảng viên khoa đào tạo trợ lý bác sỹ ở các trường Y tại Mỹ” trên cơ sở sử dụng lý thuyết hai nhân tố Herzberg. Ông chia nhân tố tạo động lực làm hai nhóm: Nhóm nhân tố nội tại gồm bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến và nhóm nhân tố bên ngoài gồm lƣơng, sự hỗ trợ của cấp trên và mối quan hệ nhất định với tạo động lực làm việc. Tổng hợp lại, LV có sự kế thừa chọn lọc các công trình trên. Tuy nhiên đề tài của LV không bị trùng lắp với các công trình đã công bố.
Cơ sở lý luận về tạo động lực cho ngƣời lao động 1. Những khái niệm cơ bản về tạo động lực làm việc 1. Nhu cầu Nhu cầu là một hiện tƣợng tâm lý của con ngƣời; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con ngƣời về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trƣờng sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi ngƣời có những nhu cầu khác nhau.
Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con ngƣời cảm nhận đƣợc.xuan TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.xuan Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con ngƣời hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con ngƣời càng cao. Về mặt quản lý, kiểm soát đƣợc nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát đƣợc cá nhân (trong trƣờng hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu). Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận.
Về mặt quản lý, ngƣời quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hƣớng của nhà quản lý, do đó ngƣời quản lý luôn có thể điều khiển đƣợc các cá nhân. Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trƣờng sống. Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã đƣợc lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa.
Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con ngƣời nói riêng. Nhu cầu đƣợc nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội. Có nhiều cách phân loại về nhu cầu.