phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo động lực cho ngƣời lao động. Chƣơng 2: Thực trạng công tác tạo động lực cho ngƣời lao động tại Cục Dự trữ nhà nƣớc khu vực Bình Trị Thiên. Chƣơng 3: Giải pháp tạo động lực cho ngƣời lao động tại Cục Dự trữ nhà nƣớc khu vực Bình Trị Thiên. 6 PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1.
Cơ sở lý luận về tạo động lực cho ngƣời lao động 1. Khái niệm cơ bản về động lực và tạo động lực cho ngƣời lao động 1. Động lực lao động Hoạt động của con ngƣời là hoạt động có mục đích. Vì vậy các nhà quản lý luôn tìm cách để trả lời câu hỏi là tại sao ngƣời lao động lại làm việc.
Để trả lời đƣợc cho câu hỏi này các nhà quản trị phải tìm hiểu về động lực của ngƣời lao động và tìm cách tạo động lực cho ngƣời lao động trong quá trình làm việc. Trên thực tế có nhiều quan điểm về động lực làm việc: “Động lực củ người o động là những nhân tố bên trong khuyến khích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo r năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện củ động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người o động”. Có quan điểm khác cho rằng “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của người o động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”.
[20] Động lực bị ảnh hƣởng bởi nhiều nhân tố, các nhân tố này thƣờng xuyên thay đổi, trừu tƣợng và khó nắm bắt. Có thể kể ra đây một số nhân tố sau: Nhân tố thuộc về bản thân ngƣời lao động (hệ thống nhu cầu, mục tiêu lợi ích cá nhân, nhận thức của ngƣời lao động.); Các nhân tố thuộc về công việc (đặc tính công việc, bố trí công việc.); Các nhân tố thuộc về tổ chức và môi trƣờng (Các chính sách nhân sự, bầu văn hóa không khí của công ty, pháp luật, nội quy, quy chế. Các nhân tố này rất phức tạp và đa dạng, đòi hỏi ngƣời quản lý phải biết kết hợp tối ƣu các nhân tố thúc đẩy khả năng, phạm vi nguồn lực của tổ chức để vừa đạt đƣợc mục tiêu cá nhân ngƣời lao động, vừa đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Vì vậy, động cơ lao động là nguyên nhân, lý do để cá nhân ngƣời lao động tham gia vào quá trình lao động, còn động lực lao động là biểu hiện của sự thích thú, hƣng phấn thôi thúc họ tham gia làm việc.
Động cơ vừa có thể tạo ra động lực mạnh mẽ cho ngƣời lao động nhƣng nó cũng đồng thời làm thui chột đi mong muốn 7 đƣợc làm việc, đƣợc cống hiến của họ. Ngƣời quản lý phải hiểu và phân tích động cơ, động lực của ngƣời lao động để đƣa ra các chính sách nhân sự hợp lý để ngƣời lao động hoàn thành công việc, đồng thời cũng giúp cho tổ chức đạt đƣợc mục tiêu đã đặt ra. Động lực làm việc gồm cả yếu tố hữu hình và vô hình: - Yếu tố hữu hình phổ biến chính là tiền. - Các yếu tố vô hình có khả năng mang lại hiệu quả vƣợt xa kì vọng của tổ chức.
Các yếu tố vô hình có thể kể đến nhƣ: sự tôn trọng của tổ chức và đồng nghiệp, các nỗ lực đóng góp đƣợc ghi nhận xứng đáng, đƣợc tạo điều kiện chứng minh năng lực bản thân và hoàn thiện chính mình. Tạo động lực cho ngƣời lao động Động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con ngƣời. Khi con ngƣời ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác nhau. Các nhân tố thuộc về ngƣời lao động đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho chính họ nhƣ nhu cầu, mục đích, quan niệm về giá trị… Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực đồng thời hoạt động trong con ngƣời và trong môi trƣờng sống và làm việc của con ngƣời, do đó hành vi có động lực trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự tác động của nhiều nhân tố nhƣ văn hóa, kiểu lãnh đạo, nội quy… Chính vì những đặc điểm này nên động lực của mỗi con ngƣời là khác nhau, vì vậy mà các nhà quản lý cần có những tác động khác nhau đến mỗi ngƣời lao động.
Trong giai đoạn hiện nay, nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng. Vấn đề tạo động lực trong lao động và một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân sự, nó thúc đẩy ngƣời lao động hăng say làm việc nâng cao hiệu quả công tác. Để có đƣợc động lực cho ngƣời lao động làm việc thì phải tìm cách tạo ra đƣợc động lực đó. Nhƣ vậy “Tạo động lực trong o động là hệ thống các chính sách, các biện pháp các thủ thuật quản ý tác động đến người o động nhằm àm cho người lao động có được động lực để làm việc”.
Cần phải tìm hiểu đƣợc ngƣời lao động làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu gì từ đó thúc đẩy động cơ lao động của họ tạo động lực cho lao động.Nhƣ vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra đƣợc động lực để ngƣời lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức. “Tạo động lực gắn liền với lợi ích hay nói cách khác lợi ích tạo r động lực 8 trong o động”. Song trên thực tế động lực đƣợc tạo ra ở mức độ nào, bằng cách nào phụ thuộc vào cơ chế cụ thể để sử dụng nó nhƣ là một nhân tố cho sự phát triển của xã hội. Muốn lợi ích tạo ra động lực phải phụ thuộc vào nó, kích thích nó làm gia tăng hoạt động có hiệu quả của lao động trong công việc, trong chuyên môn hoặc trong những chức năng cụ thể.
Một số học thuyết về tạo động lực lao động 1. Thuyết nhu cầu của Maslow Maslow cho rằng hành vi của con ngƣời bắt nguồn từ việc thỏa mãn các nhu cầu theo một thứ tự ƣu tiên từ thấp tới cao. Theo trật tự này, nhu cầu của con ngƣời đƣợc chia thành 5 bậc và theo trật tự nhƣ sau: Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu đƣợc tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Sơ đồ 1.1: Tháp phân cấp nhu cầu của A. Maslow (Nguồn: M s ow,.
(1943), “ theory of hum n motiv tion”) Nhu cầu về sinh lý học: Là nhu cầu cơ bản nhất của con ngƣời bao gồm: thức ăn, nƣớc uống, không khí…Trong tổ chức, vần đề này đƣợc phản ánh thông qua sự thỏa mãn nhu cầu về nhiệt độ, không khí tại nơi làm việc và tiền lƣơng để duy trì cuộc sống của ngƣời lao động. Nhu cầu về an toàn: Đây là những nhu cầu cần đƣợc an toàn cả về vật chất và tinh thần, không có bất cứ một đe dọa nào, không có bạo lực và đƣợc sống trong xã 9 hội có trật tự. Trong tổ chức, nhu cầu này đƣợc phản ánh qua sự an toàn trong công việc, an toàn nghề nghiệp, tài sản. Nhu cầu xã hội: Thể hiện mong muốn đƣợc giao lƣu, gặp gỡ, tiếp xúc, thiết lập các mối quan hệ với những ngƣời khác trong cuộc sống và trong công việc, đƣợc tham gia vào các tổ chức.
Tại nơi làm việc, có thể đƣợc đáp ứng thông qua các hoạt động giao lƣu, sinh hoạt tập thể ngoài giờ làm việc giữa mọi ngƣời lao động trong doanh nghiệp nhƣ bữa ăn trƣa tập thể, tham gia đội bóng của công ty, các chuyến du lịch, nghỉ mát.Mặc dù, Maslow xếp nhu cầu này sau 2 nhu cầu phía trên, nhƣng ông nhấn mạnh rằng nếu nhu cầu này không đƣợc thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần. Nhiều nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, những ngƣời sống độc thân thƣờng hay mắc các bệnh về tiêu hóa, thần kinh, hô hấp hơn những ngƣời sống với gia đình. Nhu cầu tự trọng (đƣợc tôn trọng): Là nhu cầu có địa vị, đƣợc ngƣời khác tôn trọng hay thừa nhận đối với sự thành đạt, tài năng, năng lực của một cá nhân. Tại nơi làm việc, những vật tƣợng trƣng cho địa vị có thể thỏa mãn nhu cầu này nhƣ ngƣời lao động đƣợc làm việc trong những căn phòng làm việc lớn, đầy đủ tiện nghi, phần thƣởng xứng đáng với thành tích đạt đƣợc.
vì chúng chứng tỏ sự đánh giá và công nhận của doanh nghiệp đối với sự đóng góp của cá nhân. Nhu cầu tự khẳng định (tự hoàn thiện): Là cấp độ cao nhất thể hiện qua những nhu cầu về chân thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, mong muốn đƣợc phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực. Trong công việc, họ mong muốn làm các công việc có tính thách thức, đòi hỏi bản thân phải nỗ lực để đạt đƣợc mục tiêu, đƣợc tự chủ trong công việc. nhà quản lý cần cung cấp các cơ hội phát triển những thế mạnh cá nhân.
Đồng thời, ngƣời lao động cần đƣợc đào tạo và phát triển, cần đƣợc khuyến khích tham gia vào quá trình cải tiến trong doanh nghiệp hoặc tổ chức và đƣợc tạo điều kiện để họ tự phát triển nghề nghiệp. Maslow cho rằng: “Khi một nhu cầu trong số các nhu cầu đó được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng. Sự thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân sẽ đi theo thứ bậc như trên và mặc dù không có một nhu cầu nào có thể thỏa mãn hoàn toàn, nhưng một nhu cầu được thỏa mãn về cơ ản thì không còn tạo r động lực. Vì thế, để tạo động lực cho nhân viên, người quản lý cần phải hiểu nhân viên đó đ ng ở đâu trong hệ thống thứ bậc này và hướng vào sự thỏa mãn các nhu cầu ở thứ bậc đó”.
Thuyết công bằng của J. Stacy Adams Thuyết công bằng do J. Adams - một nhà tâm lý học hành vi và quản trị đƣa ra vào năm 1963. Theo thuyết này, nếu trong tổ chức tạo đƣợc sự công bằng sẽ giúp thắt chặt mối quan hệ của mỗi cá nhân với tổ chức, động viên và làm gia tăng sự hài lòng của họ, từ đó họ sẽ làm việc hiệu quả và gắn bó hơn với tổ chức.