Chương 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về tạo động lực làm việc cho đội ngũ CCVC. Thực trạng công tác tạo động lực làm việc cho đội ngũ CCVC tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Một số giải pháp tạo động lực làm việc cho đội ngũ CCVC huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
Tổng quan các tài liệu nghiên cứu Động lực và tạo động lực làm việc là chủ đề quan trọng, được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm, nghiên cứu từ rất sớm. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu lý thuyết thuộc trường phái cổ điển trên thế giới đã tập trung nghiên cứu về vấn đề phân công, chuyên môn hoá công Luan van 6 việc cho tổ chức lao động một cách chặt chẽ và hiệu quả. Chính những nghiên cứu đặt nền móng này đã giúp cho công tác quản lý nguồn nhân lực phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ XX và thế kỷ XXI. Và cho đến nay, các nhà khoa học tiếp cận vấn đề động lực và tạo động lực chủ yếu theo hai nhóm học thuyết: Một là, nhóm học thuyết về nội dung như học thuyết nhu cầu của Abraham Harold Maslow (1943, 2011), học thuyết hai nhóm nhân tố của Fridetick Herzberg (1959) chỉ ra cách tiếp cận các nhu cầu của lao động quản lý.
Hai là, nhóm học thuyết về quá trình như học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom (1964, 1994), học thuyết công bằng của J.Stacy Adam (1963, 1969), học thuyết tăng cường tích cực của B.Skinner (1938) nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến những hành động khác nhau trong công việc của cá nhân. Vận dụng các học thuyết nêu trên, một vài nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến tạo động lực và cách thức tạo động lực theo nhiều quan điểm khác nhau. Theo Kovach (1987) chỉ ra 10 nhân tố động viên, trong đó công việc thích thú đóng vai trò quan trọng đối với nhóm lao động thu nhập cao, nhưng với nhóm lao động có thu nhập thấp thì nhân tố quan trọng là tiền lương. Một vài nghiên cứu của Việt Nam cũng chỉ ra rằng mức lương cao có ảnh hưởng lớn đối với lao động Việt, bởi đa số người lao động có mức sống thấp và tình trạng nền kinh tế đang phát triển, giá cả, mức chi phí cho hoạt động hằng ngày cao.
Hackman và Oldman (1974) thì cho rằng đặc điểm công việc là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tạo động lực lao động [26]. Đi sâu vào nghiên cứu động lực đối với người làm việc tại khu vực công, nhiều nhà khoa học đã chỉ ra rằng còn rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề tạo động lực. Như Downs (1957), Tullock (1965), Brehm and Gates (1997) thì khẳng định lương chỉ là một phần cấu thành động lực làm việc của công chức. Công chức còn bị ảnh hưởng nhiều bởi sự đa dạng, thú vị của công việc (Romzek,1990; Massey và Brown, 1998).
Còn theo Daley (1986), Emmert Luan van 7 and Taher (1992) thì giờ làm việc linh hoạt và cơ hội thăng tiến mới là nhân tố thúc đẩy động lực làm việc của cán bộ, công chức … Nghiên cứu của Janet Cheng Lian Chew (2004) cho rằng động viên nhân viên phụ thuộc vào hành vi lãnh đạo, quan hệ nơi làm việc, văn hóa và cấu trúc cơ sở, môi trường làm việc. Dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà khoa học và các học giả trên thế giới đã đưa ra những nhận định và quan điểm khác nhau về tạo động lực làm việc. Cụ thể một số công trình nghiên cứu có ảnh hưởng lớn đến việc tạo động lực làm việc cho người lao động như: Theo Buelens & Van den Broeck (2007) với nghiên cứu “Phân tích sự khác biệt trong động lực làm việc giữa những tổ chức ở khu vực công và khu vực tư”. Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm ra sự khác biệt về động lực làm việc của người lao động ở khu vực công và khu vực tư.
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ cuộc điều tra gồm 3314 nhân viên ở khu vực tư và 409 nhân viên làm việc ở khu vực công Vương quốc Bỉ. Nghiên cứu này còn chỉ ra sự khác biệt trong động lực làm việc giữa phụ nữ và nam giới (Phụ nữ thường được thúc đẩy làm việc bởi tiền lương và các mối quan hệ tốt đẹp trong tổ chức). Bên cạnh đó, kết quả phân tích còn cho thấy người lao động lớn tuổi ít có xu hướng rời bỏ tổ chức. Họ muốn được làm việc trong một môi trường có nhiều sự cảm thông, hỗ trợ và ít được thúc đẩy bởi nhân tố tiền lương.
Hơn nữa, cấp bậc quản lý được xem là nhân tố đặc biệt quan trọng trong việc giải thích số giờ làm việc và sự cam kết đối với công việc [24]. Re’em (2010) với nghiên cứu “Tạo động lực thúc đẩy nhân viên ở khu vực công: các công cụ ứng dụng trong thực tiễn”. Nghiên cứu này hướng đến việc tìm ra các nhân tố lý thuyết và các chiến thuật có thể áp dụng trong thực tế, từ đó giúp nhà quản lý khu vực công tạo ra nhiều động lực làm việc hơn cho nhân viên của họ. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp Luan van 8 phỏng vấn trực tiếp các nhà quản lý ở khu vực công và dựa trên kinh nghiệm thực tế của chính tác giả nhằm đề xuất các chiến thuật thích hợp cho khu vực công.
Kết quả nghiên cứu: có ít nhất 14 nhân tố để khuyến khích người lao động làm việc tốt hơn, gồm: các phần thưởng; sự thừa nhận; sự tự chủ; sự thăng tiến; sự công bằng; cơ hội học tập…Đi cùng với 14 nhân tố này là 46 chiến thuật phù hợp với nội dung của từng nhân tố, nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhà quản lý có thể áp dụng các chiến thuật như trao quyền cho nhân viên, hay để nhân viên tự quyết định nhằm làm tăng sự tự chủ của họ. Tác giả đã khuyến nghị nhà quản lý cần sử dụng các chiến thuật một cách thận trọng, phù hợp với từng hoàn cảnh và từng cá nhân [27]. Các lý thuyết về động lực giúp giải thích hành vi của một người nhất định tại một thời điểm nhất định. Có thể chia các học thuyết này thành 02 nhóm: (1) Học thuyết nội dung tập trung nhận dạng những nhu cầu của cá nhân có ảnh hưởng đến hành vi của họ ở nơi làm việc, bao gồm: Lý thuyết tháp nhu cầu của Maslow; Mô hình tháp nhu cầu điều chỉnh của Alderfer (mô hình này là sự rút gọn, giản lược từ mô hình gốc của Maslow); Thuyết 2 nhân tố của Herzberg (gồm nhóm nhân tố thúc đẩy và nhóm nhân tố duy trì); Thuyết thành tựu thúc đẩy của McClelland (gồm: nhu cầu thành tựu; nhu cầu quyền lực; nhu cầu liên minh).
(2) Học thuyết quá trình tập trung nghiên cứu vào quá trình tư duy của con người. Quá trình tư duy này có ảnh hưởng đến quyết định thực hiện những hành động khác nhau của con người trong công việc, bao gồm các lý thuyết: Thuyết kỳ vọng của Vroom; Thuyết công bằng của Adam; Lý thuyết mục tiêu của Locke; Thuyết thẩm quyền của Heider và Kelley. Luan van 9 Đối với Việt Nam, sau đổi mới đất nước kể từ năm 1986, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học mang tính chuyên sâu liên quan đến tạo động lực làm việc cho người lao động trong các lĩnh vực khác nhau. Vai trò của việc tạo động lực ngày càng được khẳng định mạnh mẽ ở khu vực công.
Tại Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ về chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 đã chỉ rõ một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cải cách hành chính là: nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để CBCCVC thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công. Có thể khẳng định, một khi hiệu suất và hiệu quả làm việc của CBCCVC được cải thiện sẽ trở thành nền tảng vững chắc cho quá trình cải cách hành chính, cải cách thể chế. Do vậy, vấn đề tạo động lực làm việc hiệu quả cho CBCCVC càng nhận được sự quan tâm lớn của các cấp trong giai đoạn hiện nay [14]. Tác giả Lê Đình Lý (2012), luận án tiến sỹ Kinh tế: “Chính sách tạo động lực cho cán bộ, công chức cấp xã nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ An”.
Tác giả đã chỉ ra rằng việc bố trí sử dụng cán bộ công chức cấp xã chưa đúng với năng lực, sở trường; chính sách đánh giá chưa khách quan; chưa chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng; chính sách tiền lương bất cập, không đáp ứng đủ các nhu cầu thiết yếu; điều kiện làm việc còn nhiều hạn chế.là những nguyên nhân cơ bản không tạo động lực làm việc cho đội ngũ. Từ đó, luận án đề xuất một số quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách tạo động lực cho cán bộ, công chức cấp xã phù hợp với đặc điểm của địa phương [12]. Tác giả Nguyễn Thị Phương Lan (2015), luận án tiến sĩ Quản lý công “Hoàn thiện hệ thống công cụ tạo động lực cho công chức ở các cơ quan hành chính Nhà nước” cũng đưa ra những kinh nghiệm trong công tác tạo động lực Luan van 10 bằng các giải pháp hoàn thiện hệ thống công cụ tạo động lực cho công chức hành chính, gồm: Nâng cao nhận thức về tiếp cận hệ thống trong công tác quản lý nhân sự, trong tạo động lực cho công chức hành chính; hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy điều chỉnh các vấn đề liên quan đến công vụ, công chức; Cải thiện điều kiện, môi trường làm việc, xây dựng nền công vụ trong sạch, lành mạnh và hiệu quả dựa trên nguyên tắc thực tài [11]. Hoàng Thị Hồng Lộc và Nguyễn Quốc Nghi (2014), Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Cần Thơ với bài viết “Xây dựng khung lý thuyết về động lực làm việc ở khu vực công tại Việt Nam”.
Bài viết được thực hiện nhằm xây dựng khung lý thuyết phục vụ cho mục đích khám phá các nhân tố chính ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên ở khu vực công tại Việt Nam. Khung lý thuyết được đề xuất dựa trên mô hình Tháp nhu cầu của Maslow (1943) và mô hình Tháp nhu cầu của Trung Quốc do Nevis đề xuất năm 1983, nhưng đã có sự điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với đối tượng nghiên cứu là CCVC Việt Nam.