CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC 1. Lý luận chung về động lực làm việc và tạo động lực làm việc 1. Một số khái niệm 1. Động lực Theo các nhà nghiên cứu, có nhiều cách tiếp cận và hiểu khác nhau về động lực.
Dưới góc độ quản trị học, nhiều tác giả quan niệm động lực như là những yếu tố có tác dụng thúc đẩy, khuyến khích, động viên con người nỗ lực lao động, làm việc nhằm hướng tới mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Theo Maier & Lawler (1973): Động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân. Theo Kreitner (1995) cho rằng động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định. Theo Higgins (1994), động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thoả mãn.
Còn theo Bedeian (1993), động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu [15, tr. Theo giáo trình Quản trị nhân lực thì động lực là: “sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức đã đặt ra” [5,tr. Dưới góc độ triết học, một số tác giả xem động lực như là những yếu tố có tác dụng thúc đẩy quá trình vận động và phát triển của xã hội như sau: “động lực là cái thúc đẩy, là cái làm gia tăng sự phát triển” [18,tr.15]; “động lực là sức tác động, có khả năng kích thích, khởi động; có năng lực chuyển hóa làm xuất hiện cái mới, thúc đẩy sự phát triển của xã hội và con người”, hay “động lực phát triển xã hội là những nhân tố tác động tích cực, thúc đẩy quá trình biến đổi, làm xuất hiện cái mới trong sự vận động đi lên của xã hội” [3,tr.35]; “động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức” [23,tr. 10 Tuy còn nhiều quan niệm khác nhau về động lực, song dưới góc độ của khoa học quản trị, đa số tác giả đều thống nhất: động lực là những cái thúc đẩy con người nỗ lực hoạt động, làm việc để đạt được mục tiêu nhất định.
Biểu hiện của động lực là sự hăng say, nỗ lực của mỗi cá nhân trong quá trình thực hiện công việc. Trên cơ sở kế thừa, phát triển các quan điểm đó, tác giả đưa ra quan điểm về động lực như sau: Động lực của con người là sự tác động tổng hợp của các yếu tố (vật chất và tinh thần) có tác dụng thúc đẩy, kích thích sự hăng say, nỗ lực hoạt động, làm việc của mỗi người nhằm đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Động lực làm việc Trong các tổ chức hiện nay, đội ngũ lao động là một nguồn lực quan trọng. Các nhà quản lý ngày càng quan tâm đến việc làm sao để người lao động làm việc hăng say, gắn bó với công việc từ đó đạt hiệu quả cao trong lao động.
Với những công việc như nhau trong cùng một điều kiện làm việc có những người đạt được kết quả cao nhưng có những người đạt kết quả thấp. Ngoài lý do về năng lực, trình độ lành nghề, một yếu tố quan trọng cần nói tới là động lực lao động. Cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về động lực làm việc, tùy theo cách tiếp cận và nhìn nhận dưới góc độ nào. Theo từ điển Tiếng Anh Longma thì “Động lực làm việc là một động cơ có ý thức hay vô thức khơi gợi và hướng hành động vào việc đạt được mục tiêu mong đợi”.
Theo góc độ Hành vi tổ chức: “Động lực của người lao động là nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất hiệu quả cao” [21, tr. Từ góc độ quản lý nguồn nhân lực, động lực làm việc chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng các nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Nhờ có động lực làm việc mà người lao động trong tổ chức có được sự nỗ lực, sự cam kết và sáng tạo trong công việc để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. 11 Như vậy, từ những phân tích trên đây có thể nói: động lực làm việc được hiểu là sự thúc đẩy khiến cho con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao [8, tr.
Động lực làm việc xuất phát từ sự khao khát và tự nguyện nên khiến con người làm việc hăng say, giúp cho họ phát huy được sức mạnh tiềm tàng bên trong và do đó họ có thể vượt qua được những thách thức, khó khăn để hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Tạo động lực làm việc Những nhân viên luôn mang trong mình động lực làm việc lớn là nguồn tài sản vô cùng quý giá của một tổ chức, họ là những người luôn duy trì nỗ lực trong việc thực hiện các nhiệm vụ, đồng thời dễ dàng tạo ra bầu không khí đầy nhiệt huyết cho mình và các thành viên khác trong tổ chức. Tuy nhiên, làm thế nào để nhân viên luôn có động lực làm việc? Động lực làm việc trong mỗi cá nhân là khác nhau, thậm chí có cá nhân không có động lực làm việc, điều này buộc các nhà quản lý phải tìm cách tạo ra được động lực làm việc cho đội ngũ nhân viên của mình. Với cách hiểu đã trình bày ở trên về động lực và động lực làm việc thì tạo động lực làm việc được hiểu là: tổng hợp các biện pháp, các chính sách, phương tiện, cách thức quản lý…và cách ứng xử của tổ chức và các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động trong thực thi công việc để đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra.
Bản chất của tạo động lực làm việc Tạo động lực làm việc là một trong những hoạt động quan trọng của tổ chức nhằm đảm bảo hiệu quả và hiệu suất trong việc thực hiện nhiệm vụ. Mỗi tổ chức có thể dựa trên những hướng dẫn của đơn vị cấp trên hoặc tự tìm kiếm những cách thức, biện pháp phù hợp với đặc thù của tổ chức mình nhằm tác động một cách chính xác, kịp thời và phù hợp đến các thành viên trong tổ chức với mục đích tạo 12 ra động lực làm việc cho người lao động, đó có thể là những chính sách khuyến khích, hỗ trợ người trẻ có trình độ, năng lực; là sự khen thưởng, động viên và hỗ trợ kịp thời về cả vật chất và tinh thần với người lao động; là sự công bằng và hợp lý trong cách thức đánh giá kết quả thực hiện công việc… 1. Vai trò của tạo động lực làm việc Bất cứ tổ chức nào cũng mong muốn nhân viên của mình có động lực làm việc và vì thế tạo động lực làm việc cho nhân viên là một trong những nhiệm vụ của các nhà quản lý. Mục đích cơ bản nhất của tạo động lực làm việc là nhằm sử dụng một cách hợp lý nguồn lao động, khai thác một cách hiệu quả nguồn lực con người nhằm không ngừng nâng cao năng suất lao động của tổ chức.
Bên cạnh đó, tạo động lực còn nhằm mục đích thu hút và gắn bó các cá nhân với tổ chức bởi vì khi người lao động có động lực làm việc thì họ sẽ hăng say với công việc, nhiệt tình và hết lòng với tổ chức. Tạo động lực làm việc cho người lao động vì thế có ý nghĩa rất lớn đối với sự thành công của tất cả các tổ chức. Đối với cá nhân người lao động, tạo động lực làm việc giúp họ đạt được mục tiêu của bản thân, có cơ hội để thành công trong công việc và cuộc sống. Một người có động lực làm việc tức là họ sẽ thực hiện công việc của mình với nỗ lực (sự cố gắng, cường độ làm việc cao), có mục đích định hướng và kiên trì trong theo đuổi các mục tiêu.
Nếu có động lực làm việc thì người lao động sẽ hài lòng với công việc và có ý thức tự phát triển và hoàn thiện mình. Đối với tổ chức, tạo động lực làm việc nhằm những mục đích sau: - Làm cho tổ chức sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất. - Gia tăng hiệu suất làm việc của tổ chức. - Giúp cho tổ chức đạt được mục tiêu đề ra.
- Thu hút, giữ chân nhân viên, tạo nên một lực lượng lao động ổn định và nâng cao vị thế, uy tín của tổ chức trên thị trường lao động cũng như trong xã hội. - Đem lại sự sáng tạo trong tổ chức. 13 - Giảm thiểu những vấn đề có tác động tiêu cực nảy sinh trong hoạt động của tổ chức. - Tạo động lực làm việc trong tổ chức cũng giúp xây dựng một bầu không khí làm việc thân thiện, có sự hợp tác chia sẻ, ít tranh chấp.
Một số học thuyết cơ bản về động lực và tạo động lực làm việc 1. Thuyết nhu cầu của Maslow Abraham Maslow (1908- 1970) là một học giả về quản lý và tâm lý học của Mỹ được người ta viện dẫn tương đối nhiều. Ông cho rằng nhu cầu của loài người có thể chia thành 5 loại: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu giao tiếp xã hội, nhu cầu tôn trọng, nhu cầu tự thể hiện bản thân. Nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến cao nhất.
Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn là động lực thúc đẩy nữa. Mô hình tháp nhu cầu của Maslow 14 Nhu cầu sinh lý (tồn tại): Đây là nhu cầu cơ bản của con người để duy trì cuộc sống nó bao gồm nhu cầu về thức ăn, nước uống, quần áo mặc, chỗ ở. Khi các nhu cầu này chưa được thoả mãn ở mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống. Nhu cầu an toàn: Là nhu cầu phổ biến với hầu hết mọi người, tất cả chúng ta đều mong muốn bảo vệ mình khỏi bạo lực sự nguy hiểm, đảm bảo cuộc sống hiện tại và tương lai, sự đảm bảo không bị tước đoạt những nhu cầu sinh lý cơ bản.
Nhu cầu xã hội: Hầu hết mọi người đều muốn có tác động quan hệ qua lại và chung sống với những người khác trong môi trường mà họ đang sống.