CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC PHƯỜNG 1. Công chức phường 1. Khái niệm công chức phường Công chức là một nguồn lực quan trọng trong nền công vụ của bất kỳ quốc gia nào. Theo khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), đưa ra khái niệm “công chức” như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [25].
Khái niệm “công chức cấp xã” được quy định tại khoản 3, điều 4 của Luật Cán bộ, công chức 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) như sau: “công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [24]. Theo quy định tại Điều 110 Hiến pháp 2013 và Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định về phân cấp hành chính ở Việt Nam bao gồm: cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, trong đó cấp xã gồm xã, phường, thị trấn được gọi chung là cấp xã [23], [26]. Theo đó, phường là cấp hành chính cấp xã ở địa phương, công chức cấp xã bao gồm công chức làm việc tại xã, phường và thị trấn. Do đó, công chức phường được xác định là một bộ phận thuộc công chức cấp xã, với các chức danh cụ thể và đặc thù phù hợp với tính chất quản lý hành chính nhà nước ở đô thị.
Khái niệm “công chức phường” được định nghĩa là: công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ 10 một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND phường, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức phường là những người được tuyển dụng vào các vị trí cụ thể để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ tại UBND phường. Họ có trách nhiệm trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND phường trong công tác điều hành, quản lý và thực thi các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần đảm bảo hoạt động hành chính công ở cấp cơ sở diễn ra hiệu quả và đúng quy định. Ngày 10 tháng 6 năm 2023 Chính phủ ban hành Nghị định số 33/2023/NĐ-CP quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố, cơ cấu chức danh công chức phường gồm: Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường; Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội [6].
Theo quy định mới, công chức phường chỉ còn lại 06 chức danh, trong đó chức danh Trưởng công an không còn là công chức phường vì đã được bố trí lực lượng công an chính quy. Đặc điểm công chức phường Trước hết, công chức phường là công dân Việt Nam, thường được tuyển dụng qua thi tuyển hoặc xét tuyển và cần đảm bảo đủ tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn. Họ đảm nhận các chức danh chuyên môn và nghiệp vụ tại UBND cấp xã, giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý và phục vụ cộng đồng và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Thứ hai, tính ổn định công việc của công chức phường thường thấp hơn so với công chức cấp trên, và họ thường phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau.
Ở các khu vực nông thôn và miền núi, trình độ chuyên môn của công chức phường khi mới tuyển dụng thường không cao, dẫn đến sự biến động nhân sự. Thứ ba, phần lớn công chức phường là người dân địa phương, có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ với cộng đồng, giúp họ nắm bắt tâm tư và nguyện vọng của người dân. Công chức phường cũng là những người gần gũi với nhân dân, tiếp xúc trực tiếp với người dân và đóng vai trò cầu nối giữa chính quyền và cộng đồng, thực hiện các chủ trương và chính sách của Nhà nước. 11 Có thể nói, công chức phường là lực lượng quan trọng trong bộ máy hành chính cấp cơ sở, nhưng họ có những đặc thù riêng về cơ cấu, nhiệm vụ và môi trường làm việc.
Phường thuộc khu vực đô thị, với cơ sở hạ tầng hiện đại và mật độ dân cư cao, do đó công chức phường thường phải xử lý khối lượng công việc lớn. Bên cạnh đó, công chức phường thường cần trình độ chuyên môn cao hơn, do tính phức tạp của công việc tại đô thị. Do đó, để nâng cao hiệu quả công tác tạo động lực làm việc cho công chức phường, cần thiết phải có các công cụ và biện pháp phù hợp dựa trên những đặc điểm và đặc thù của công chức. Vị trí, vai trò của công chức phường Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính.
Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi” [21, tr. Điều này cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của chính quyền cơ sở và công chức phường trong bộ máy quản lý nhà nước (QLNN) ở địa phương. Thứ nhất, công chức phường có trách nhiệm tổ chức và thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Điều này đảm bảo rằng các chính sách này được triển khai hiệu quả tại địa phương, từ đó nâng cao hiệu quả QLNN ở cơ sở và chất lượng phục vụ người dân.
Thứ hai, với vị trí gần gũi với cộng đồng, công chức phường không chỉ quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội (KT-XH) mà còn là cầu nối quan trọng giữa người dân và chính quyền. Họ có khả năng tiếp xúc, lắng nghe và phản ánh kịp thời các tâm tư, nguyện vọng của người dân đến các cấp thẩm quyền, giúp điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn địa phương. Thứ ba, công chức phường thường xuyên tham gia vào việc triển khai các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất và đời sống của người dân. Họ hiểu rõ nhu cầu và đặc điểm của cộng đồng, từ đó đề xuất và thực hiện các giải pháp phù hợp, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững cho địa phương.
Động lực làm việc và tạo động lực làm việc cho công chức phường 1. Động lực làm việc 12 1. Khái niệm động lực làm việc Theo Từ điển Tâm lý học, “động cơ” hay “động lực” được hiểu là “cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó” [8, tr. Mặt khác, trong Từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng định nghĩa: “động lực được hiểu là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tích tính cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó” [8, tr.
Dưới góc độ quản lý nguồn nhân lực, “động lực làm việc” được định nghĩa: “là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng các nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức” [22]. Trong Giáo trình Hành vi tổ chức các tác giả Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Hương đưa ra khái niệm “động lực lao động” là: “những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao” [29]. Ở giác độ quản lý nguồn nhân lực trong Giáo trình quản trị nhân lực, tác giả Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân cho rằng: “động lực làm việc chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng các nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức” [12, tr. Từ các góc độ tiếp cận trên có thể khái quát: động lực làm việc là yếu tố kích thích và thúc đẩy sự nỗ lực cũng như cam kết của cá nhân trong công việc, nhằm đáp ứng nhu cầu và mục tiêu của cả cá nhân lẫn tổ chức.
Động lực làm việc được thể hiện qua tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực, tận tâm và cam kết cam kết của cá nhân đó đối với công việc, thúc đẩy hoàn thành hiệu quả các nhiệm vụ được giao. Động lực làm việc không phải là yếu tố cố định thuộc về đặc điểm và tính cách cá nhân, mà có thể thay đổi theo thời gian và tùy thuộc vào từng môi trường cụ thể. Động lực làm việc cần xuất phát từ sự tự nguyện của bản thân. Khi người lao động làm việc với đam mê, hiệu quả và chất lượng công việc sẽ cao hơn.
Ngược lại, nếu họ làm việc trong trạng thái thụ động, không có động lực tích cực, sẽ dẫn đến kết quả 13 không cao. Do đó, để tạo động lực làm việc cho một cá nhân cần phải khơi dậy tinh thần tự nguyện, sự khao khát để hoàn thành tốt nhất công công việc được giao. Các biểu hiện của động lực làm việc a) Mức độ tham gia vào công việc Mức độ tham gia vào công việc có thể được đánh giá thông qua các yếu tố như sự tự giác, lòng nhiệt huyết, và nỗ lực trong quá trình làm việc. Cụ thể, điều này có thể được nhận biết qua cách sử dụng thời gian (chẳng hạn như việc đi làm đúng giờ, thời gian làm việc thực tế, và tỷ lệ thời gian có hiệu quả,.), cũng như qua tinh thần và thái độ làm việc (bao gồm sự nhiệt tình và lòng đam mê trong công việc).
Những biểu hiện này phản ánh mức độ cam kết và sự quan tâm của một cá nhân đối với nhiệm vụ và mục tiêu công việc [52]. b) Mức độ gắn bó, yêu thích công việc Mức độ gắn bó với công việc giúp người lao động cảm thấy hài lòng và yên tâm với công việc hơn.