Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Động lực và tạo động lực làm việc 1. Động lực làm việc 1. Khái niệm động lực làm việc Có nhiều quan niệm khác nhau về động lực trong lao động.
Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Th.S Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [4, tr. Theo giáo trình hành vi tổ chức của TS Bùi Anh Tuấn “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [21, tr. Suy cho cùng “động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động” mà ra.
Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức. Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. Điều này có nghĩa không có động lực lao động chung cho mọi lao động. Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn.
Động lực lao động được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. Động lực lao động không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm 17 Luan van việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực lao động chưa chắc đã còn trong họ. Động lực lao động mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc.
Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt được hiệu quả công việc tốt nhất. Từ những quan niệm và phân tích trên có thể đưa ra khái niệm động lực làm việc như sau: Động lực làm việc là những nhân tố bên trong chịu sự tác động của các yếu tố vật chất và tinh thần tác động, thúc đẩy, kích thích con người tự giác, hăng say, nỗ lực làm việc, phát huy mọi khả năng tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực làm việc Như đã đề cập ở các phần trên, động lực làm việc có ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả công việc của người lao động. Nếu người lao động thiếu động lực làm việc sẽ dẫn đến kết quả, thành tích không tốt và ngược lại.
Song, động lực làm việc của người lao động chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố. Vì vậy, chúng ta rất khó có thể đánh giá, xác định được một cách trực tiếp động lực của lao động, mà chỉ có thể xác định động lực thông qua những biểu hiện của nó như: sự tự giác, hăng say, nỗ lực làm việc người lao động. Do vậy, để đánh giá động lực của người lao động chúng ta có thể sử dụng một số tiêu chí sau: - Mức độ tham gia vào công việc + Hiệu suất sử dụng thời gian làm việc Hiệu suất sử dụng thời gian làm việc là tỷ lệ (%) giữa thời gian làm việc thực tế của người lao động và thời gian làm việc theo quy định. Thời gian làm việc thực tế là thời gian thực tế làm việc bình quân trong ngày hoặc thời gian thực tế làm việc của người lao động để hoàn thành công việc hay nhiệm vụ được giao.
Thời gian làm việc theo quy định là thời gian làm việc tính theo giờ hành 18 Luan van chính (8 giờ một ngày) hoặc thời gian được quy định để hoàn thành công việc hay nhiệm vụ được giao. Hiệu suất sử dụng Thời gian làm việc thực tế = thời gian làm việc Thời gian làm việc quy định + Mức độ nỗ lực thực hiện công việc Mức độ nỗ lực thực hiện công việc là chỉ tiêu phản ánh mức độ tích cực, hăng say, nhiệt tình trong thực hiện công việc của người lao động; phản ánh mức độ tiêu hao sức lực (cả thể lực về trí lực) của người lao động để hoàn thành công việc được giao. Mức độ nỗ lực thực hiện công việc cao hay thấp còn thể hiện cường độ lao động của người lao động trong quá trình thực hiện công việc được giao. + Mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao Mức độ hoàn thành công việc được giao là tỷ lệ (%) giữa khối lượng công việc đã hoàn thành và khối lượng công việc được giao trong khoảng thời gian nhất định.
Mức độ hoàn thành Khối lượng công việc hoàn thành = công việc được giao Khối lượng công việc được giao - Mức độ quan tâm đến công việc + Sự yêu thích công việc Là sự yêu thích, quan tâm đến công việc được giao, nó thể hiện người lao động được làm công việc yêu thích, khi đó họ yêu cả những khó khăn do công việc đặt ra. Chính sự khó khăn mới tạo ra lý thú nên có thể kích thích thêm lòng yêu nghề, khiến cho người lao động hứng thú học hỏi, phát triển kiến thức, kỹ năng. Ngược lại, lao động có tính miễn cưỡng, làm vì buộc phải làm, sẽ ức chế mọi hoạt động, suy nghĩ, làm cho người lao động chóng mệt mỏi và tất nhiên sẽ kém năng suất, kém hiệu quả. + Mức độ yên tâm với công việc 19 Luan van Mức độ yên tâm làm việc là chỉ tiêu phản ánh mức độ hài lòng, thoả mãn của người lao động với vị trí công việc hiện tại.
Nếu người lao động yên tâm làm việc họ sẽ nhiệt tình, hăng say, tận tuỵ hơn với công việc. Ngược lại, nếu người lao động không yên tâm làm việc, sự nhiệt tình, hăng say, tận tuỵ của họ trong công việc sẽ giảm dần. Nếu tình trạng này kéo dài, người người lao động sẽ có cảm giác bất an, chán nản và có thể sẽ bỏ việc hoặc thay đổi công tác đến đơn vị khác. Khi đó, động lực của người lao động sẽ bị triệt tiêu [13, tr.
+ Mức độ hài lòng với công việc Lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng việc tạo sự hài lòng của người lao động sẽ ảnh hưởng tích cực đến lòng trung thành với tổ chức và hiệu suất lao động. Người lao động cảm thấy hài lòng với công việc của mình sẽ làm giảm các nguy cơ như đình công, bất hợp tác, thiếu tích cực trong làm việc. Vì vậy, nhà lãnh đạo, quản lý cần chú ý tìm hiểu các vấn đề như: Các yếu tố tác động tới sự hài lòng trong công việc của người lao động? Các phương thức tác động khiến người lao động cảm thấy hài lòng và giảm cảm giác nhàm chán với công việc, từ đó tạo sự hăng hái trong công việc [12]. Các yếu tố ảnh hưởng tới động lực làm việc Động lực làm việc của người lao động chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố thuộc về môi trường, chính bản thân họ và các yếu tố khác.
- Ảnh hưởng của các yếu tố chung + Các yếu tố thuộc về bản thân người người lao động Nhu cầu và lợi ích cá nhân Nhu cầu của mỗi cá nhân không giống nhau và mỗi cá nhân đều có rất nhiều nhu cầu. Các nhu cầu này rất đa dạng và thay đổi liên tục theo thời gian. Con người có thể cùng lúc có nhiều nhu cầu khác nhau và không phải chỉ khi nào thỏa mãn được các nhu cầu bậc thấp con người mới nẩy sinh nhu cầu ở bậc cao hơn. 20 Luan van Lợi ích là mức độ thỏa mãn nhu cầu của con người, mà nhu cầu là yếu tố quan trọng nhất tạo ra động lực.
Nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không có nhu cầu thì không có lợi ích hay lợi ích là biểu hiện hình thức của nhu cầu. Khi có sự thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần tức là con người đã nhận được lợi ích từ vật chất và tinh thần thì khi đó động lực tạo ra càng lớn. Năng lực cá nhân Năng lực cá nhân tác động đến động lực làm việc theo 2 hướng nó có thể làm gia tăng hoặc làm giảm đi động lực làm việc của mỗi cá nhân trong tổ chức. Nếu năng lực của công chức cao hơn nhiều so với đòi hỏi công việc họ nắm giữ sẽ dẫn tới việc công chức nhanh chóng rơi vào trạng thái nhàm chán và thiếu động lực làm việc.
Điều này cũng xảy ra tương tự như khi năng lực của công chức thấp hơn yêu cầu của công việc. Vì thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết nên họ thường xuyên gặp khó khăn trong công việc. Tình trạng này lặp đi, lặp lại hàng ngày làm cho người lao động rơi vào trạng thái mệt mỏi, chán nản không còn động lực làm việc nữa. Tình trạng kinh tế Tình trạng kinh tế ảnh hưởng nhiều đến nhu cầu làm việc của người lao động và vì vậy, nó ảnh hưởng lớn đến động cơ làm việc của họ.
Với những người có điều kiện kinh tế tốt, các nhu cầu bậc cao trở nên nổi trội hơn. Ngược lại, với những người có điều kiện kinh tế khó khăn, cần quan tâm đến các nhu cầu của họ như tiền lương, an toàn công việc… + Các yếu tố thuộc về công việc Sự đa dạng của các kỹ năng sử dụng trong công việc: Sự đa dạng của công việc cho phép người lao động thực hiện những thao tác khác nhau, sử dụng một số quy trình và có thể sử dụng nhiều thiết bị khác nhau. Những công việc có mức độ đa dạng thường được xem là có tác dụng kích thích, bởi vì sử dụng hết mọi khả năng của người lao động. 21 Luan van Tính ổn định và mức độ tự chủ khi thực hiện công việc: Công việc có tính ổn định và mức độ tự chủ cao sẽ tác động đến kinh nghiệm và khả năng làm việc của người lao động, người lao động yên tâm công tác và sẽ phát huy hết khả năng làm việc của mình.