CHƯƠNG 1: QUY TẮC XUẤT XỨ HÀNG HÓA VÀ THUẾ QUAN ƯU ĐÃI 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XUẤT XỨ HÀNG HÓA 1. Xuất xứ hàng hóa 1. Khái niệm xuất xứ hàng hóa Ngày nay, sự phát triển trong việc giao thoa giữa các quốc gia ngày càng sâu rộng đã làm gia tăng sự thúc đẩy trong vấn đề trao đổi hàng hóa khi hàng hóa sản xuất ra không chỉ để sử dụng trong nước mà còn để buôn bán giữa các nước, các vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới.
Bởi lẽ nhu cầu thương mại ngày càng tăng lên khi một mặt hàng không phải chỉ được sản xuất bởi một quốc gia mà nó còn có sự tham gia của nhiều quốc gia khác nhau. Điều này đã kéo theo các cuộc tranh chấp thương mại do quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia chưa được bảo đảm khi nguồn gốc của mặt hàng được nuôi trồng, sản xuất hay gia công chưa rõ ràng. Chính vì vậy, khái niệm xuất xứ hàng hóa ra đời là yếu tố quan trọng giúp quá trình thương mại hóa quốc tế diễn ra thuận lợi. Theo Điều 1, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại – GATT 1994: “xuất xứ hàng hóa là “quốc tịch” của hàng hóa”.
Theo Điều 3(b) Hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO định nghĩa “Một nước được xác định là nước xuất xứ của một hàng hóa cụ thể nếu như hàng hóa được hoàn toàn sản xuất ra ở nước đó hoặc khi nhiều nước cùng tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó thì nước xuất xứ hàng hóa là nước thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng”. Theo phụ lục chuyên đề K của Công ước Kyoto – Công ước quốc tế về đơn giản hóa và hài hoà hóa thủ tục hải quan sửa đổi năm 1999: “Nước xuất xứ của hàng hóa là nước tại đó hàng hóa được chế biến hoặc sản xuất, phù hợp với tiêu chuẩn được đặt ra nhằm mục đích áp dụng trong biểu thuế hải quan, những hạn chế về số lượng hoặc các biện pháp khác liên quan đến thương mại” 10 Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 31/2018/NĐ-CP về hướng dẫn Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa và khoản 14, Điều 3 Luật Thương mại Việt Nam 2005 thì khái niệm xuất xứ hàng hóa được quy định cụ thể như sau: “Xuất xứ hàng hóa là nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó.” Trên thực tế, việc xác định xuất xứ hàng hóa không hề đơn giản, các nước phải xây dựng cho riêng mình những tiêu chí cụ thể trong việc xác định xuất xứ hàng hóa để đảm bảo lợi ích kinh tế của quốc gia mình. Do vậy, các quốc gia đã tiến hành các vòng đàm phán song phương và đa phương nhằm tạo nên sự thống nhất, đơn giản và hài hòa các quy tắc xuất xứ để tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế. Vai trò xuất xứ hàng hóa Thứ nhất, xuất xứ hàng hóa đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát và thống kê hoạt động ngoại thương.
Nói cách khác, xác định xuất xứ hàng hóa là yếu tố cần thiết cho việc thu thập số liệu thống kê thương mại. Xác định xuất xứ khiến cho việc tổng hợp các số liệu thống kê thương mại hàng năm được tiến hành dễ dàng hơn. Thứ hai, xuất xứ hàng hóa là công cụ của chính sách thương mại và thúc đẩy xúc tiến thương mại: Xác định xuất xứ hàng hóa còn có tác dụng trong việc thực hiện chính sách thương mại của một nước hay một khối nước dành cho nước hay khối nước cụ thể nào khác. Trong các trường hợp khi hàng hóa của một nước được phá giá tại thị trường nước khác, việc xác định được xuất xứ khiến các hành động chống phá giá và áp dụng thuế chống trợ giá trở nên khả thi.
Như vậy, việc xác định xuất xứ hàng hóa là chỉ tiêu quan trọng cho việc đánh giá chất lượng, là công cụ để thực hiện chính sách thương mại trong quan hệ song phương và đa phương của các quốc gia. Trong điều kiện hiện nay, khi việc gia nhập các liên kết kinh tế thương mại khu vực và thế giới trở thành một xu thế, một nhu cầu bức thiết nhằm duy trì và đẩy mạnh quan hệ thương mại, thì việc xác định xuất xứ hàng hóa càng có ý nghĩa quan trọng. 11 Thứ ba, xuất xứ hàng hóa giúp xác định thuế quan ưu đãi: Xuất xứ hàng hóa có liên quan đến việc tính thuế quan nhập khẩu, cụ thể là đến việc vận dụng mức thuế (thuế ưu đãi, hoặc thuế bình thường hay thuế trả đũa), đến những thủ tục hải quan (nếu hàng đến từ các nước trong nhóm thì thủ tục có thể đơn giản, nếu hàng đến từ các nước ngoài nhóm có thể bị kiểm tra, khám xét kỹ càng hơn). Chính sách thương mại của các quốc gia và thỏa thuận thương mại khu vực đôi khi có sự phân biệt.
Việc xác định được xuất xứ hàng hóa giúp có thể phân biệt được đâu là loại hàng hóa nhập khẩu được hưởng ưu đãi để áp dụng chế độ ưu đãi theo các thỏa thuận thương mại đặc biệt và đâu là loại hàng hóa không được hưởng ưu đãi. Thứ tư, xuất xứ hàng hóa là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng hàng hóa, nhất là những sản phẩm thô và đặc sản. Xuất xứ hàng hóa giúp chúng ta hình dung được nguồn gốc, quê hương, nơi sản xuất của hàng hóa, từ đó chúng ta có thể nhìn nhận hay đánh giá được chất lượng của hàng hóa đó. Điều này đã được chứng thực ở nhiều quốc gia, chẳng hạn nói đến Pháp người ta nghĩ ngay đến đất nước của rượu vang đỏ được chiết xuất từ những cánh đồng nho bạt ngàn, hay nói đến Brazil người ta nghĩ ngay đến quê hương của cà phê với chất lượng nổi tiếng thế giới.
Như vậy có thể coi việc xác định xuất xứ hàng hóa là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng hàng hóa. Thứ năm, xuất xứ hàng hóa có ý nghĩa trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và bảo vệ môi trường. Ví dụ, đối với một số loại thực phẩm có xuất xứ từ các nước Châu Âu như Mỹ, Đức, Pháp. thường được người dân tin dùng vì trước khi xuất sang Việt Nam, hàng hóa có xuất xứ từ các nước này đã qua kiểm định nghiêm ngặt, đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Còn đối với một số hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc sẽ khiến người tiêu dùng e ngại hơn vì phần lớn các loại hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng đều xuất xứ từ thị trường này. Quy tắc xuất xứ hàng hóa 1. Khái niệm quy tắc xuất xứ hàng hóa Hiệp định quy tắc xuất xứ của WTO định nghĩa: “Quy tắc xuất xứ là những luật, quy định, quyết định hành chính chung do các thành viên áp dụng để xác định nước xuất xứ của hàng hóa với điều kiện là quy tắc xuất xứ này không liên quan đến thỏa thuận thương mại hoặc chế độ thương mại tự chủ có áp dụng ưu đãi thuế quan” Theo Phụ lục chuyên đề K của Công ước Kyoto sửa đổi: “Quy tắc xuất xứ là các quy định cụ thể, hình thành và phát triển từ những quy tắc quy định trong luật pháp quốc gia hoặc các hiệp định quốc tế (tiêu chuẩn xuất xứ), được một quốc gia áp dụng để xác định xuất xứ hàng hóa” 1. Vai trò của quy tắc xuất xứ hàng hóa Các khu vực thương mại tự do thúc đẩy tự do hóa thương mại bằng cách cắt giảm thuế đối với những mặt hàng xuất xứ từ các nước thành viên.
Tuy nhiên, việc cắt giảm thuế không diễn ra tự động mà còn phụ thuộc vào việc đáp ứng các quy tắc xuất xứ. Quy tắc xuất xứ áp dụng cho hàng nhập khẩu nhằm các mục đích sau: Thứ nhất, xác định hàng hóa nhập khẩu thuộc diện được hưởng ưu đãi thương mại; Thứ hai, thực thi các biện pháp hoặc công cụ thương mại, như thuế chống bán phá giá, biện pháp tự vệ…; Thứ ba, để phục vụ công tác thống kê thương mại; Thứ tư, để phục vụ việc thực thi các quy định pháp luật về nhãn và ghi nhãn hàng hóa; Thứ năm, để phục vụ các hoạt động mua sắm của chính phủ theo quy định. Quy tắc xuất xứ nhằm xác định sự hợp lệ của hàng nhập khẩu để được hưởng mức thuế ưu đãi. Nếu không có quy tắc xuất xứ, hiện tượng thương mại chệch hướng (trade deflection) sẽ rất khó ngăn chặn.
Ví dụ, hàng hóa nhập khẩu từ các nước không tham gia FTA sẽ vào khu vực FTA thông qua nước thành viên. Từ đó, mức thuế thấp nhất sẽ được áp dụng với hàng hóa nhập khẩu từ các nước không tham gia FTA. Quy tắc xuất xứ 13 không chỉ là một công cụ kỹ thuật để thực thi FTA mà còn là một công cụ chính sách thương mại. Tuy nhiên, điều này có thể làm tăng chi phí mà các doanh nghiệp phải chịu dưới hình thức giấy tờ và chi phí kế toán.
Phân loại các quy tắc xác định xuất xứ hàng hóa a. Quy tắc Xuất Xứ “Thuần Túy” – Wholly Obtained Xuất xứ thuần túy là sản phẩm được sản xuất hoàn toàn trong lãnh thổ của một nước tham gia hiệp định. Mỗi hiệp định thương mại có quy định khác nhau về xuất xứ thuần túy. Đa số các quy tắc về xuất xứ thuần túy trên thế giới đều giống nhau về nội dung và chủ yếu liên quan tới các mặt hàng nông lâm, thủy hải sản và khóang sản.
Theo đó, hàng hóa có xuất xứ thuần túy là những sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên hoặc là những sản phẩm được gia công hay chế biến không có sự tham gia của nguyên vật liệu nhập khẩu hoặc không rõ xuất xứ. Một ví dụ về con cá được ướp muối. Cá được đánh bắt trên sông của Lào nhưng muối không xác định được xuất xứ (Lào là quốc gia không có biển), hoặc muối có xuất xứ thuần túy được nhập khẩu từ Việt Nam. Cá ướp muối sẽ không được coi là có xuất xứ thuần túy Lào cho dù 99% trị giá của cá thành phẩm có xuất xứ thuần túy Lào và chỉ 1% muối không xác định được xuất xứ hoặc được nhập khẩu từ một thành viên ASEAN.