Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động XKLĐ. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý hoạt động XKLÐ tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 4: Giải pháp và triển vọng nâng cao quản lý hoạt động XKLĐ tỉnh Vĩnh phúc đến năm 2020.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động là một trong những chính sách lớn của Nhà nước ta. Trong những năm qua nhà nước luôn tạo điều kiện thuận lợi để công dân Việt Nam có đủ điều kiện đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động và của các tổ chức sự nghiệp, của các doanh nghiệp đi làm việc ở nước ngoài.
XKLĐ là sự di chuyển LĐ quốc tế có thời hạn, có tổ chức, vì mục đích kinh tế, được pháp luật cho phép, dưới sự quản lý và hỗ trợ của nhà nước. Xuất khẩu lao động là một trong những thuật ngữ được tiếp cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, xuất khẩu lao động là việc đưa người lao động sang làm việc tại nước ngoài. Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/9/1999 của Chính phủ nêu rõ: “Xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước… cùng với giải pháp giải quyết việc làm trong nước là chính, xuất khẩu lao động và chuyên gia là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa…” Hiểu theo Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng số 72/2006/QH ngày 29/11/2006 của Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 “Xuất khẩu lao động là quá trình đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài hợp pháp được quản lý và hỗ trợ của nhà nước theo hợp đồng của các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, các tổ chức sự nghiệp, các doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu, các tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài, hợp đồng nâng cao tay nghề, hoặc theo hợp đồng cá nhân giữa người lao động và chủ sử dụng lao động”1.TS Đặng Đình Đào, Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 92, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội 2005.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 7 Người LĐ khi ra nước ngoài làm việc thì gọi là người LĐ xuất cư, quốc gia mà họ có quốc tịch được gọi là nước xuất cư. Người LĐ khi đến nước khác gọi là người LĐ nhập cư và nước tiếp nhận gọi là nước nhập cư. Ở khía cạnh khác “Xuất khẩu lao động là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại, mà hàng hóa đem xuất là sức lao động của con người, còn khách mua là chủ thể người nước ngoài. Nói cách khác, xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế dưới dạng dịch vụ cung ứng lao động cho nước ngoài, mà đối tượng của nó là con người”2.
XKLĐ là sự di chuyển LĐ quốc tế có thời hạn, có tổ chức, vì mục đích kinh tế, được pháp luật cho phép, dưới sự quản lý và hỗ trợ của nhà nước. Về nghĩa hẹp, XKLĐ thực hiện chương trình an sinh xã hội về vấn đề lao động, giải quyết việc làm cho người dân ở một quốc gia. Về nghĩa rộng, XKLĐ thực hiện chương trình hợp tác quốc tế giữa các quốc gia góp phần thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá trên lĩnh vực lao động3. Trong cuốn sách “XKLĐ với giải quyết việc làm ở Việt Nam” PGS.TS Nguyễn Phúc Khanh, Trường Đại học ngoại thương, đã đưa ra Khái niệm: “XKLĐ là hoạt động kinh tế đối ngoại đặc thù của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở hợp đồng có thời hạn, có tính chất pháp quy, được thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động” Từ những khái niệm trên cho thấy xuất khẩu lao động là một loại hình dịch vụ đặc biệt, tính chất đặc biệt thể hiện là hoạt động xuất khẩu “sức lao động”, do con người là chủ sở hữu và được con người toàn quyền sử dụng và định đoạt trong mua bán trên thị trường trong nước và quốc tế.
Mặt khác, cùng với người lao động, các tổ chức XKLĐ vừa là đối tượng bị quản lý của Nhà nước, lại vừa là chủ thể của hoạt động XKLĐ, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và quản lý người lao động, chịu sự điều chỉnh đan xen của nhiều lĩnh vực pháp luật. Do đó, XKLĐ là hoạt động liên quan đến con người, đến các DN, chịu tác động của nhiều yếu tố chủ quan, khách quan phức tạp. Nói một cách khác, XKLĐ là hoạt động kinh tế - xã hội phức tạp và nhạy cảm.TS Đoàn Minh Duệ, Xuất khẩu lao động ở Hà Tĩnh-Thực trạng và giải pháp đến năm 2020, NXB Nghệ An, 2010. 3 ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB CTQG, Hà Nội 2006, tr.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 8 Từ hiện tượng di chuyển lao động quốc tế tự do đến xuất khẩu lao động phản ánh một quá trình phát triển kinh tế-xã hội, quan hệ lao động của mỗi quốc gia. Đó là quá trình nhận thức vai trò của người lao động, lợi thế nguồn nhân lực trong mỗi nước và sự phân công lao động quốc tế. Mối quan hệ giữa xuất khẩu lao động và di chuyển lao động quốc tế được thể hiện trong sơ đồ 1.1: Sơ đồ di chuyển lao động quốc tế và xuất khẩu lao động (Nguồn Tạp chí KT&PT số 92, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội 2005) Di chuyển lao động quốc tế và xuất khẩu lao động tuy cùng có nội hàm giống nhau, đó là di cư lao động từ quốc gia này đến quốc gia khác làm việc vì mục đích kinh tế, nhưng giữa chúng có sự khác nhau về chất. Việc di chuyển lao động ngoài xuất khẩu lao động mang tính tự phát, tự do, có khi là bất hợp pháp còn di chuyển lao động trong XKLĐ mang tính tự giác, có tổ chức, có mục đích, có thời hạn, được sự cho phép và dưới sự quản lý và hỗ trợ của nhà nước.
Khi nói đến XKLĐ, phải được hiểu là xuất khẩu “sức lao động” của con người, do người lao động sử dụng sức lao động của mình bán cho chủ sử dụng lao động nước ngoài, sống và làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động đã ký kết. Nên quan hệ mua - bán sức lao động trong XKLĐ là quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài, đặc biệt phức tạp, được thể hiện ở 3 đặc điểm sau: - Về mặt kinh tế: Xuất khẩu lao động là một loại hình dịch vụ cung cấp loại hàng hóa đặc biệt (sức lao động). Nó chứa đựng đầy đủ tính chất, yêu cầu của loại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 9 hàng hóa đặc biệt, đó là hoạt động của con người, tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Giá cả của sức lao động này phụ thuộc vào chất lượng của lao động, trước hết là các yếu tố về trình độ chuyên môn, tay nghề được đào tạo, mức độ giao tiếp về ngôn ngữ, văn hóa, phẩm chất cá nhân như tính cần cù, kĩ năng nghề, tinh xảo, sự khéo léo… và khả năng hội nhập giao lưu với các nền văn hóa, tôn giáo khác.
Giá cả của sức lao động cũng phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu của nước nhập khẩu lao động. - Về mặt chính trị: Xuất khẩu lao động là quá trình hợp tác góp phần hỗ trợ xây dựng, phát triển kinh tế- xã hội của nước nhập khẩu lao động. Khác với các loại hàng hóa khác, đối với người đi XKLĐ ngoài yếu tố cơ bản về phẩm chất cá nhân, trình độ chuyên môn thì trình độ văn hóa ngoại ngữ, khả năng hòa đồng hết sức quan trọng để đảm bảo phát huy thế mạnh đó, thực sự tôn trọng luật pháp, hòa hợp tốt với cộng đồng dân cư nước sở tại. - Về quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài: Thể hiện sau khi người lao động xuất cảnh, sống và làm việc ở nước ngoài, họ không chỉ phải tuân thủ pháp luật nước xuất khẩu mà còn chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật, các quan hệ kinh tế, văn hoá, xã hội và phong tục tập quán của nước sở tại và các điều ước quốc tế mà nước xuất khẩu và nước nhập khẩu cùng tham gia.
Một số đặc điểm của xuất khẩu lao động Có thể nói, xuất khẩu lao động có nội hàm đa nghĩa, bao hàm di cư vì việc làm hay sự di chuyển lao động, trao đổi quốc tế về sức lao động, tạo công ăn việc làm ngoài nước hay đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Vì vậy, hiện nay trên thế giới trong các văn kiện, tài liệu, công trình nghiên cứu sử dụng rất nhiều khái niệm đồng nghĩa với xuất khẩu lao động. Đó là: - Trao đổi quốc tế về sức lao động: Là hiện tượng người lao động đi làm thuê, di chuyển ra nước ngoài nhằm mục đích kiếm việc làm để sinh sống. Ở đây sự trao đổi, mua bán sức lao động có tính quốc tế hay trên phạm vi quốc tế.
Tuy vậy, không chỉ ra được việc trao đổi đó có ngang giá hay không, có sự quản lý và hỗ trợ của nước xuất cư và nhập cư hay không. Do vậy, thuật ngữ này không phản ánh đầy đủ bản chất và nội dung của xuất khẩu lao động theo cơ chế thị trường. - Hợp tác quốc tế về lao động: Các tài liệu quốc tế và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) hầu như không sử dụng thuật ngữ này. “Hợp tác quốc tế về lao động” Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 10 nhằm chỉ việc trao đổi sức lao động không ngang giá và không phản ánh đúng quan hệ cung cầu về sức lao động và các quy luật của thị trường lao động quốc tế.
Thực tế, nó chỉ được sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định để chỉ sự trao đổi lao động giữa một số nước xã hội chủ nghĩa (trong phạm vi khối SEV) trước đây trên tinh thần giúp đỡ và tương trợ lẫn nhau.