Chương 1:Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở nước CHDCND Lào. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với cán bộ , công chức ở tỉnh U Đôm Xay, nước CHDCND Lào giai đoạn hiện nay Chương 3: Những quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh U Đôm Xay, nước CHDCND Lào Luan van Chương1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC ỞCHDCND LÀO 1. Tổng quan về cán bộ, công chức 1. Khái niệm cán bộ, công chức trong hệ thống pháp luật ởCHDCND Lào 1.
Khái niệm cán bộ Khái niệm cán bộ đã được sử dụng khá lâu tại các nướcxã hội chủ nghĩa, trong đó có cả Việt Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào dùng để chỉ một phạm vi rất rộng nhân sự thuộc khu vực nhà nước và tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội. Thuật ngữ cán bộ trước đây thường được dùng chung với một số thuật ngữ khác trong nhóm từ “cán bộ, công nhân viên chức” hoặc “cán bộ, công chức”, bao quát tất cả những người làm công hưởng lương từ ngân sách nhà nước, kể từ những người lãnh đạo, quản lý, đứng đầu cơ quan tới nhân viên bảo vệ hay nhân viên tạp vụ. Sự đánh đồng như vậy dẫn tới việc không phân định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, không phân biệt những người thực thi chức năng quản lý nhà nước với chức năng cung ứng dịch vụ công thậm chí gây nhầm lẫn trong hoạt động cũng như trong cách hành xử công việc. Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế và những thành tựu của sự phát triển kinh tế - xã hội, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác nhiều mặt, nên nội hàm của khái niệm cán bộ cũng có sự thay đổi.
Ví dụ ở Vi ệt Nam và cả ở Lào, trước đây khái niệm “cán bộ” cũng chưa được hiểu thống nhất và được sử dụng chung để ghép với “công chức”, “viên chức” và khá rộng, bao gồm không chỉ những người lãnh đạo và các nhà chuyên môn làm việc trong bộ máy nhà nước mà còn làm việc trong các hợp Luan van tác xã, các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp. Cho tới năm 2008, khi Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật Cán bộ, công chức mới có cách hiểu thống nhất về khái niệm cán bộ. Trong Luật này đã nêu rõ khái niệm cán bộ: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, huyệntrực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện , quận, thị xã, huyệnthuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện ), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, cán bộ là lực lượng chủ yếu trong các cơ quan hành chính nhà nước, trong đó đại đa số cán bộ có thể giữ các chức vụ khác nhau.
Thuật ngữ “cán bộ” xuất hiện nhiều trong các văn bản chính trị, pháp luật và quản lý nhà nước. Tuy nhiên, do trải qua các thời kỳ khác nhau nên khái niệm cán bộ cũng không hoàn toàn đồng nhất. Dưới góc độ khoa học quản lý hành chính nhà nước, cán bộ được coi là những người có lương từ cán sự trở lên, để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn cán sự. Do tính chất đặc thù của nền công vụ ở Lào, khái niệm cán bộ được dùng với nhiều nghĩa khác nhau: - Khái niệm cán bộ gắn liền với những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cơ sở đến trung ương (cán bộ lãnh đạo) để phân biệt với đảng viên thường, đoàn viên, hội viên hoặc cán bộ là những người công tác chuyên trách hưởng lương trong các tổ chức đảng, đoàn thể.
- Cán bộ là những người giữ cương vị chỉ huy từ tiểu đội trưởng trở lên (cán bộ tiểu đội, đại đội, cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn…) hoặc là sỹ quan từ cấp úy trở lên trong quân đội nhân dân Lào. Luan van - Trong hệ thống bộ máy nhà nước, khái niệm cán bộ được hiểu với nghĩa trùng với khái niệm công chức, chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà nước. Đồng thời, cán bộ cũng được hiểu là những người có chức trách, lãnh đạo. Tuy cách dùng, cách thức biểu đạt khái niệm cán bộ có khác nhau nhưng về cơ bản thuật ngữ cán bộ bao hàm nghĩa chính của nó là bộ khung, là nòng cốt, là lãnh đạo, là chỉ huy.
Trong giai đoạn hiện nay, thuật ngữ “cán bộ” được dùng rất phổ biến ở các tài liệu của các cơ quan đảng - công tác đảng, nhà nước về công tác cán bộ, đoàn thể và những lời phát biểu, vận động nhân dân hay dùng gọi đối với những người của Đảng và Nhà nước xuống làm việc với người dân địa phương như: cán bộ tỉnh, cán bộ huyện, cán bộ thuế… 1. Khái niệm công chức Tác giả Tô Tử Hạ, trong cuốn sách: Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay khẳng định: chế độ công chức ra đời ở các nước tư bản phương Tây vào nửa cuối thế kỷ XIX, nó phản ánh nhu cầu khách quan của lịch sử phát triển nhà nước. “Nhân vật” trung tâm của chế độ công chức là đội ngũ công chức với tiêu chuẩn, số lượng, cơ cấu hợp lý, đáp ứng hoạt động của nền hành chính thông suốt, hiệu lực và hiệu quả.[Tô Tử Hạ (2000), Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.9] Chế độ công chức của mỗi quốc gia là do đặc điểm lịch sử, kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội quy định. Trên thực tế, ở các quốc gia khác nhau không có sự giống hệt nhau về chế độ công chức.
Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi quản lý nhà nước, thi hành pháp luật; cũng có nước quan niệm công chức bao gồm cả những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thực Luan van hiện dịch vụ công. Nhìn chung, tuỳ theo cách hiểu về công vụ rộng hay hẹp mà khái niệm về công chức cũng có nội hàm rộng hay hẹp tương ứng. Nhưng nói chung, quan niệm ở phần lớn các nước, công chức là những người làm việc trong bộ máy hành chính, thực thi quyền hành pháp. Có nơi hiểu công chức theo nghĩa rất rộng như ở Pháp là bao gồm tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính nhà nước, tất cả những người tham gia dịch vụ công.
Tại nước Anh, nơi có quan niệm công chức chỉ là những người thay mặt nhà nước giải quyết công việc công, nhất là cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, nên đối tượng được coi công chức thu hẹp hơn rất nhiều. Ở Việt Nam, khái niệm công chức cũng tương tự như khái niệm cán bộ, nhưng có sự thay đổi nội hàm qua những thời kỳ lịch sử khác nhau, gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nước và được quy định cụ thể trong các văn bản chính thức của nhà nước, cụ thể: Theo Sắc lệnh 76/SL năm 1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, công chức là: Công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan của chính phủ ở trong và ngoài nước”[Trần Thị Hóa (2008), Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia;tr32].Theo Sắc lệnh này thì nội hàm khái niệm công chức là tương đối hẹp, chỉ quy định một số đối tượng cụ thể là người làm việc thường xuyên cho cơ quan thuộc Chính phủ, nghĩa là không bao hàm người làm việc cơ quan lập pháp, tư pháp và đơn vị sự nghiệp. Nghị định số 169/HĐBT của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định Luan van như sau: Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước gọi là công chức. Pháp lệnh Cán bộ công chức được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa X ban hành năm 1998, quy định tại điều 1: Cán bộ công chức được qui định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước….
Qui định này khẳng định quan điểm và nhận thức mới về đội ngũ cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay, song vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ và công chức. Tiếp đó cùng với việc sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Cán bộ công chức vào năm 2003, một số Nghị định, Thông tư mới được ban hành, các Nghị định, Thông tư này đã làm rõ hơn khái niệm công chức bao gồm: Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo một trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước… Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp.