Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế khi đóng góp khoảng 30% tổng thu ngân sách quốc gia, nhưng tỷ lệ điều tiết ngân sách được giữ lại chỉ đạt bình quân 27,5% trong giai đoạn 2010 - 2013, tương đương chưa đầy 10% GRDP của đô thị. Thực trạng này tạo ra sự mất cân đối nghiêm trọng giữa nguồn lực tài chính sẵn có và nhu cầu chi tiêu phát triển. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào tính kém bền vững của cơ cấu thu ngân sách địa phương, nơi các khoản thu từ nhà đất chỉ chiếm khoảng 4,06% đến 5,4% tổng thu và chủ yếu phụ thuộc vào việc bán đất một lần. Nguồn thu ổn định hàng năm là thuế sử dụng đất phi nông nghiệp chỉ đạt 220 tỷ đồng năm 2013, chiếm chưa tới 0,1% ngân sách địa phương. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá tính bền vững tài khóa, phân tích tính khả thi của chính sách thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và đề xuất các kịch bản cải cách để khai thác tối đa nguồn thu này. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu kinh tế - tài khóa của thành phố giai đoạn 2010 - 2013, đồng thời so sánh với Hà Nội và các đô thị lớn trong khu vực như Thượng Hải, Jakarta. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn lớn khi cung cấp giải pháp bù đắp mức thiếu hụt 184.685 tỷ đồng vốn đầu tư hạ tầng giai đoạn 2011 - 2015, hướng đến mục tiêu đưa số thu thuế bất động sản đạt mức 1% GRDP (tương đương 7.500 tỷ đồng) và chiếm 13% tổng chi ngân sách địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung phân tích tính bền vững ngân sách của Allen Schick (2005) dựa trên 4 trụ cột đánh giá: Khả năng trả nợ (Solvency) nhằm xem xét năng lực thực hiện các nghĩa vụ tài chính hiện tại; Tăng trưởng (Growth) đánh giá chính sách chi tiêu thúc đẩy kinh tế; Ổn định (Stability) đo lường khả năng đáp ứng nghĩa vụ tương lai bằng gánh nặng thuế hiện hành; và Công bằng (Fairness) đảm bảo không chuyển dịch gánh nặng chi phí sang các thế hệ mai sau. Kết hợp với đó là lý thuyết thuế bất động sản của Enid Slack (2002) và John Norregaard (2013), nhấn mạnh các yêu cầu về hiệu quả kinh tế, công bằng ngang - dọc và tính khả thi hành chính. Về mặt định lượng, nghiên cứu áp dụng mô hình doanh thu thuế của Roy Kelly (2003): Doanh thu thuế = [Cơ sở thuế * Thuế suất] * [Tỷ lệ bao phủ * Tỷ lệ định giá * Tỷ lệ thu nộp]. Mô hình này phân tách rạch ròi giữa các biến số chính sách pháp định và ba nhân tố quản lý hành chính. Năm khái niệm cốt lõi được sử dụng gồm: tính bền vững tài khóa, thuế bất động sản hàng năm, cơ sở thuế tài sản, tỷ lệ định giá thị trường và phân cấp tài chính đô thị.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích số liệu thứ cấp và mô phỏng chính sách tài khóa. Nguồn dữ liệu thu thập từ Niên giám thống kê Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013, Bảng giá các loại đất năm 2013 do Ủy ban nhân dân thành phố ban hành, báo cáo của Nhóm Ngân hàng Thế giới (2013) và số liệu tổng hợp từ Cục Thuế thành phố. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 24 quận, huyện với tổng diện tích đất phi nông nghiệp 51.896 ha (gồm 24.071 ha đất ở đô thị, 16.130 ha đất ở nông thôn, 11.695 ha đất sản xuất kinh doanh) cùng khoảng 1,8 triệu hộ gia đình. Phương pháp chọn mẫu toàn diện trên địa bàn giúp phản ánh đầy đủ đặc thù không gian đô thị. Tác giả lựa chọn mô hình hàm doanh thu Kelly (2003) và phương pháp xây dựng kịch bản tài khóa nhằm lượng hóa chính xác sự thất thoát giữa nghĩa vụ thuế lý thuyết và số thực thu do sai lệch định giá. Timeline nghiên cứu xử lý chuỗi số liệu từ năm 2001 đến năm 2013, tập trung phân tích sâu chu kỳ 2010 - 2013 để xây dựng các kịch bản dự báo chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu ngân sách thành phố bộc lộ sự suy giảm tính bền vững khi tỷ lệ giữ lại chỉ đạt 27,55% năm 2013, thấp hơn mức 30,9% của giai đoạn 2001 - 2004. Trong khi thu ngân sách địa bàn năm 2013 đạt 234,6 nghìn tỷ đồng danh nghĩa thì ngân sách địa phương chỉ được sử dụng 47,6 nghìn tỷ đồng (chiếm 6% tổng chi ngân sách quốc gia). Chi thường xuyên chiếm bình quân 36,7% tổng chi, đẩy chi đầu tư phát triển xuống mức 28,1%, dẫn tới thâm hụt tới 184.685 tỷ đồng cho các dự án hạ tầng giai đoạn 2011 - 2015 khi nhu cầu vốn lên tới 314.981 tỷ đồng.

Thứ hai, số thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2013 chỉ đạt 220 tỷ đồng, chiếm 0,09% tổng thu ngân sách địa phương. Tính toán theo mức thuế suất sàn hiện hành 0,03% cho thấy số thu tiềm năng tối thiểu phải đạt 2.429 tỷ đồng, nghĩa là thực tế chỉ thu được khoảng 9% dung lượng khả thi.

Thứ ba, tỷ lệ định giá tài sản (VR) trong bảng giá đất của nhà nước chỉ bằng khoảng 12,5% giá trị thị trường thực tế. Giá thị trường toàn thành phố cao gấp trung bình 8 lần bảng giá quy định, cá biệt tại Hóc Môn cao gấp 13,59 lần; đất trục đường Đồng Khởi có giá thị trường đạt 1.000 triệu đồng/m2 trong khi bảng giá đất tối đa chỉ ở mức 81 triệu đồng/m2.

Thứ tư, công tác quản lý thu gặp nhiều bất cập với hơn 4.600 hồ sơ tồn đọng tại Cục Thuế năm 2012. Tình trạng tính sai tiền thuế diễn ra phổ biến như tại Quận 1 có hơn 3.000 thông báo sai và Quận Gò Vấp có 2.000 thông báo sai do áp sai vị trí và pháp lý đất.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của tình trạng kém bền vững là cơ chế phân cấp ngân sách chưa tương xứng với quy mô của một siêu đô thị. Thu từ đất đai chiếm 4,06% tổng thu năm 2013 nhưng chủ yếu là thu bán đất một lần vốn sẽ cạn kiệt trong tương lai. So sánh với các đô thị khác, Hà Nội được giữ lại 56% nguồn thu (tương đương 21,9% GRDP), còn Jakarta giữ lại 53,7% và Thượng Hải giữ lại 40,9% tổng thu với nguồn thu ổn định từ thuế tài sản và phí dịch vụ. Doanh thu thuế bất động sản của Thành phố Hồ Chí Minh chỉ dưới 0,1% GRDP, cách rất xa mức trung bình 0,6% - 0,7% GDP của các nước đang phát triển và 1% - 3% GDP của khối OECD (Canada đạt 3,09% GDP). Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ cột chồng đối chiếu cơ cấu chi tiêu công và bảng ma trận tính toán số thu tiềm năng, làm nổi bật khoảng cách giữa chính sách hiện hành và tiềm năng tài khóa chưa được khai phá.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống quản trị dữ liệu địa chính bằng cách xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa liên thông giữa cơ quan Thuế, Sở Tài nguyên & Môi trường và Sở Xây dựng, đặt mục tiêu giảm tỷ lệ sai sót thông báo thuế xuống dưới 1% trong giai đoạn 2016 - 2017 do Ủy ban nhân dân thành phố chủ trì.

Thứ hai, điều chỉnh bảng giá đất tính thuế tiệm cận thị trường, nâng tỷ lệ định giá (VR) từ 12,5% lên mức 60% - 80% giá thị trường thực tế, giúp số thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tăng gấp 10 lần lên mức 2.429 tỷ đồng ngay trong ngắn hạn theo chu kỳ cập nhật giá 1 - 2 năm do Sở Tài chính thực hiện.

Thứ ba, hiện đại hóa quy trình hành thu thông qua mạng lưới điểm nộp thuế điện tử tự động (mô hình SISTEP tương tự Indonesia) kết nối qua ngân hàng và ATM, nâng tỷ lệ thu nộp (CLR) từ 65% lên 85% trong khung thời gian 12 - 24 tháng do Cục Thuế thành phố và Kho bạc Nhà nước phối hợp triển khai.

Thứ tư, thực hiện cải cách chính sách thuế theo lộ trình hai bước dựa trên quyền tự chủ tài khóa thí điểm:

  • Giai đoạn ngắn hạn (Kịch bản 2): Giữ nguyên cơ sở thuế đất, tăng thuế suất sàn lên mức 0,08% - 0,09% để đạt doanh thu 7.100 tỷ đồng.
  • Giai đoạn dài hạn (Kịch bản 3): Mở rộng cơ sở thuế sang đánh thuế cả nhà và đất với thuế suất 0,3% - 0,35% áp dụng trên 1,8 triệu hộ dân (với giá nhà bình dân trung bình 20 triệu đồng/m2), tạo nguồn thu vững chắc từ 7.300 đến 8.500 tỷ đồng, đạt mục tiêu tương đương 1% GRDP và 13% tổng chi ngân sách địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan hoạch định chính sách trung ương (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội): Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm để xây dựng khung pháp lý Luật Thuế tài sản, hoàn thiện cơ chế phân cấp ngân sách và ban hành nghị quyết đặc thù cho các đô thị lớn.

Nhóm lãnh đạo chính quyền địa phương (Ủy ban nhân dân thành phố, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên & Môi trường TP.HCM): Nghiên cứu đóng vai trò là tài liệu tham khảo trực tiếp giúp lập kế hoạch cân đối ngân sách, cơ cấu lại nguồn thu từ đất và giải quyết bài toán thiếu hụt vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật.

Nhóm viện nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Tài chính công, Quản lý đô thị: Công trình cung cấp khung phương pháp luận chuẩn mực khi kết hợp mô hình phân tích Schick (2005) và hàm doanh thu Kelly (2003) vào nghiên cứu tài chính công thực nghiệm.

Nhóm chuyên gia phân tích thị trường bất động sản và các định chế tài chính: Luận văn hỗ trợ nhận định xu hướng điều tiết chính sách đất đai, đánh giá tác động của việc cải cách thuế tài sản lên mặt bằng giá và hạn chế tình trạng đầu cơ bất động sản.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao ngân sách Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 - 2013 bị đánh giá là kém bền vững? Ngân sách thành phố kém bền vững do tỷ lệ giữ lại chỉ đạt bình quân 27,5% (dưới 10% GRDP), không đáp ứng được mức thiếu hụt 184.685 tỷ đồng vốn hạ tầng. Nguồn thu riêng phụ thuộc lớn vào việc bán đất một lần, trong khi thuế đất phi nông nghiệp chỉ thu 220 tỷ đồng năm 2013.

Mô hình của Roy Kelly (2003) chỉ ra nguyên nhân thất thu thuế đất lớn nhất là gì? Mô hình định lượng chỉ ra điểm nghẽn chính là tỷ lệ định giá (VR) chỉ đạt 12,5% giá thị trường, khiến bảng giá đất thấp hơn thực tế 8 lần. Thêm vào đó là sự đứt gãy trong quản lý với hơn 4.600 hồ sơ tồn đọng và hàng ngàn thông báo sai sót.

Bài học cải cách thuế bất động sản từ Indonesia có giá trị ứng dụng ra sao? Indonesia đã thành công khi áp dụng mức thuế suất đơn nhất 0,5% và vận hành hệ thống điểm nộp thuế SISTEP qua ngân hàng, bưu điện và ATM. Giải pháp này giúp hiệu quả thu tăng từ 65% lên 79% ngay năm đầu tiên và doanh thu tăng trưởng bình quân 24%/năm.

Tại sao luận văn đặt mục tiêu doanh thu thuế bất động sản đạt 1% GRDP và 13% tổng chi ngân sách? Mục tiêu 1% GRDP (khoảng 7.500 tỷ đồng) và 13% tổng chi phản ánh mức bình quân của các quốc gia đang phát triển và OECD. Tỷ lệ này vừa đảm bảo tính khả thi trong thực thi, vừa tạo nguồn lực ổn định tài trợ cho dịch vụ công mà không gây sốc cho người nộp thuế.

Lộ trình cải cách thuế bất động sản nào mang lại tính khả thi cao nhất cho thành phố? Lộ trình tối ưu gồm ba bước: trước hết số hóa dữ liệu và điều chỉnh giá đất tính thuế tiệm cận thị trường để thu 2.429 tỷ đồng; tiếp theo tăng thuế suất đất lên 0,08% - 0,09% để thu 7.100 tỷ đồng; cuối cùng mở rộng đánh thuế cả nhà và đất ở mức 0,3% - 0,35%.

Kết luận

  • Ngân sách Thành phố Hồ Chí Minh đối mặt thách thức lớn khi tỷ lệ điều tiết giữ lại ở mức thấp 27,55%, dẫn đến thiếu hụt 184.685 tỷ đồng vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật giai đoạn 2011 - 2015.
  • Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2013 chỉ thu được 220 tỷ đồng, mới khai thác được khoảng 9% trong tổng số thu tiềm năng 2.429 tỷ đồng.
  • Điểm nghẽn cốt lõi nằm ở bảng giá đất tính thuế chỉ bằng 12,5% giá thị trường và công tác hành thu còn thủ công, phân tán.
  • Ba kịch bản cải cách chứng minh tính khả thi của việc nâng số thu thuế tài sản lên 7.100 đến 8.500 tỷ đồng, đạt mục tiêu tương đương 1% GRDP và 13% tổng chi ngân sách địa phương.
  • Kinh nghiệm từ Canada, Trung Quốc và Indonesia khẳng định cải cách thuế bất động sản hàng năm là chìa khóa tạo lập nguồn thu bền vững cho chính quyền đô thị.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là đã lượng hóa cụ thể dung lượng thất thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và đề xuất lộ trình cải cách khả thi gắn liền với phân cấp tài khóa. Trong giai đoạn 2016 - 2018, thành phố cần ưu tiên hoàn thiện cơ sở dữ liệu số hóa và điều chỉnh bảng giá đất; tiến tới giai đoạn 2018 - 2020 thí điểm điều chỉnh thuế suất và mở rộng cơ sở thuế tài sản. Chính phủ và chính quyền thành phố cần sớm ban hành cơ chế đặc thù cho phép thí điểm tự chủ biểu thuế nhằm khai mở nguồn lực phát triển cho đô thị đầu tàu của cả nước.