Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập cá nhân Chương 2. Thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Cục thuế Hà Nội Chương 3. Giải pháp hoàn thiện CTQL thuế thu nhập cá nhân tại Cục thuế Hà Nội 6 C H Ư Ơ N G 1.
Khái quát CO' sỏ' lý luận về thuế thu nhập cá nhân 1. Cơ sơ lý luận về thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN hình thành tương đối sớm trong lịch sử hiện đại và bắt nguồn từ các nước phương Tây. Xuất phát từ Anh Quốc (1799) với ý nghĩa ban đầu để hỗ trợ vương quốc Anh có nguồn thu cho cuộc chiến tranh với Pháp, sau đó trở thành loại thuế chính thức năm 1842(7). Từ đó thuế TNCN lan rộng ra khắp toàn thế giới và được hơn 180 nước hiện nay sử đụng như là một trong những nguồn thu quan trọng cho ngân sách tại tất cả các quốc gia áp dụng, tạo ra bình đẳng hơn trong xã hội có chênh lệch thu nhập lớn cũng như giúp các nhà làm chính sách ổn định kinh tế vĩ mô.
Theo nguyên tắc mọi khoản thu nhập của cá nhân dù bắt nguồn từ hoạt động nào hoặc hình thái ra sao (ví dụ: thu nhập từ tiền lương thưởng, làm thêm giờ, đầu tư, mua bán, hưởng thừa kế.) cũng đều phải nộp thuế TNCN. Trên thế giới đang tồn tại hai mô hình đánh thuế TNCN hoặc đánh trên tổng thu nhập của cá nhân bất kể từ nguồn nào hoặc đánh thuế theo từng loại thu nhập(8). Với mỗi loại mô hình đánh thuế TNCN khác nhau sẽ có những ưu nhược điểm khác nhau sẽ được phân tích kỹ hơn trọng nội dung của luận văn. Dù dựa trên mô hình nào thì thuế TNCN cũng có các đặc điểm chủ yếu sau đây: *** Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu: Đặc điểm này xuất phát từ đối tượng chịu thuế và ĐTNT là một và là chính cá nhân trong quốc gia đó tạo ra thu nhập bất kể trong hay ngoài phạm vị lãnh thổ, bao gồm thường xuyên và cả không thường xuyên cùng với thu nhập được trả bởi quôc gia đó cho phân thu nhập của cá nhân người nước ngoài, thuế TNCN không thể chuyển sang cho đối tượng khác phân biệt với các loại thuế gián thu trong nền kinh tế như “thuế tiêu thụ đặc biệt” hay “thuế giá trị gia tăng”.
Điều này được thể hiện rõ trong quan điểm điều chỉnh các chính sách của Nhà nước liên quan đến loại thuế này. *** Thuế thu nhập cá nhân là thuế tính lũy tiến: Đặc điểm lũy tiến dựa trên sự gia tăng về cơ sở để tính thuế mà cụ thể là phần thu nhập chịu thuế. Phương pháp đánh thuế lũy tiến lần đầu được áp dụng tại Pháp(7). Lúc đầu thuế được đánh theo phương pháp tỷ lệ và được cho là công bằng 7 khi thu nhập càng cao thì nghĩa vụ nộp thuế càng phải nhiều hcm.
Quan điểm này dần được thay đổi về sau trên cơ sở lợi ích cận biên - nghĩa là phần thu nhập phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu sẽ được miễn giảm hay đánh thuế thấp hơn phần thu nhập còn lại mà vượt ngưỡng cơ bản. Phần thu nhập cao hơn mức cơ bản này sẽ chịu thuê theo phương thức lũy tiến và sẽ được xã hội chấp nhận một cách dễ dàng hơn và cách đánh thuê như này được xem là sẽ đánh vào tầng lóp người giàu trong xã hội. rác động tích cực của việc đánh thuế theo phương pháp này đối với thuế TNCN được rất nhiều nhà kinh tế và các nhà hoạt động xã hội ủng hộ khi người giàu phải đóng góp cho các nguồn thu của Nhà nước cao hơn mức trung bình. Cũng có nhiều ý kiến trái chiều đầu thế kỷ XX cho rằng việc đánh thuế lũy tiến đối với thuế TNCN là phương pháp khuyến khích chế độ theo chủ nghĩa tập thể; việc đánh thuế lũy tiến có thể không có giá trị nếu bậc giá trị lũy tiến thấp hoặc các hoạt động kinh tế sẽ rời bỏ đất nước nếu bậc lũy tiến cao.
Ngày nay, việc đánh thuế TNCN bằng phương pháp lũy tiến được coi là tất yếu, vấn để còn lại chỉ là việc thiết lập mức thuế cho từng bậc ra sao và khoảng cách giữa các bậc thế nào cho phù họp nhất. ♦> Thuế thu nhập cá nhân gắn chặt vói khả năng của ngưòi nộp thuế: Khả năng của người nộp thuế được xác định thông qua thu nhập tối thiếu dùng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cho cuộc sống của người đó. Do đó thuế TNCN sẽ chỉ tính trên số nhu thập còn lại sau khi trừ đi khoản thu nhập cần thiết cho cuộc sống tối thiểu được gọi là “mức giảm trừ gia cảnh”, thuế TNCN được coi là một loại thuế thực, tức là đã xét đến gia cảnh người nộp thuế trước khi xác định khoản thu nhập cần được đánh thuế. Karl Marx đã từng viết: “thuế là cơ sở kinh tể của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản từ người dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước”(9).
Có rất nhiều cách để tăng nguồn thu cho NSNN nhưng thuế là phần nguồn thu quan trọng nhất. Thống kê của Bộ Tài Chính đã chỉ ra nguồn thu từ thuế gánh vác trên 90% nuôi dưỡng Ngân sách quốc gia. Thuế cũng là công cụ để quản lý vĩ mô: với việc kiểm kê, giám sát, định hướng và khuyến khích mọi mặt của nền kinh 8 tế. Tạo cân bằng trong nhiều mặt của xã hội.
Trong các sắc thuế được đưa ra thì thuế TNCN là một trong những sắc thuế quan trọng nhất. Căn cứ tính toán thuế thu nhập cá nhân ♦> Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân Từ tên gọi xác định đây là một loại thuế đánh vào cá nhân, không đánh trên các giao dịch, hàng hóa hay dịch vụ. Thuế TNCN cũng chỉ tính cho đối tượng có thu nhập trong kỳ tính thuế tương ứng. Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế được định nghĩa là “tổng thu nhập trừ đi tổng các khoản được trừ của đối tượng đó trong kỳ tính thuế”.
Muốn xác định thu nhập chịu thuế cần hiểu rõ thu nhập điều chỉnh trong thuế TNCN và các khoản được trừ. Nói cụ thể hơn là xác định ba yếu tố cơ bản là các phần của tổng thu nhập, các khoản được miễn thuế và các khoản được giảm trừ: Bảng 1.1: các loại thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân 10 loại thu nhập chịu TTNCN: Thu nhập từ tiên lương, tiên công (bao gôm cả tiên thưởng, phụ câp, trợ câp, lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền từ người sử dụng lao động) Thu nhập từ hoạt động sản xuât kinh doanh (có thê bao gồm từ các cá nhân có chứng chi hành nghề độc lập hoặc hoạt động cho thuê nhà) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn (chuyển nhượng phần vốn góp tại công ty hoặc mua bán các loại cổ phiếu, trái phiếu) Thu nhập từ đâu tư vôn (nguôn thu nhập từ tiên lãi, cô tức được trả từ hoạt động đầu tư vốn) Thu nhập từ chuyến nhượng bất động sân (bao gồm cả quyền sở hữu và quyền sử dụng đất cũng như nhà ở) Thu nhập từ bân quyền Thu nhập từ nhượng quyên thương mại Thu nhập từ thừa kê Thu nhập từ quà tặng Thu nhập từ trúng thưởng 9 > về thu nhập: Tùy vào mục đích của nghiên cứu mà các nhà khoa học đưa ra những định nghĩa khác nhau cho khái niệm “thu nhập”. Theo định nghĩa của hai nhà kinh tế học RM. Simons: “thu nhập là tổng giá trị của cải ròng tăng lên của một cá nhân cộng với sự tiêu dùng của người đó trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm '(l(,).
Định nghĩa này được chấp nhận phổ biển, tuy nhiên phần giá trị tăng lên của của cải nghĩa là hàng hóa, dịch vụ chỉ được định lượng thông qưa giao dịch và khó có thể đánh thuế mà chỉ dựa trên tiềm năng thay đổi giá trị. Dựa vào định nghĩa trên mà các nhà kinh tế học hiện đại đã đưa ra hai cơ sở cho việc đánh thuế TNCN: Cơ sở về “thu nhập tổng thể” là mọi nguồn của thu nhập trừ đi chỉ phí hợp lý cho nó - hay còn gọi là thu nhập ròng để đánh thuế TNCN dựa trên mọi lợi ích phát sinh cá nhân đó nhận được. Cơ sở về “thu nhập giới hạn” là những nguồn của thu nhập có tính liên tục, chu kỳ trong thời gian dài. Nếu dựa trên cơ sở “thu nhập tổng thể” sẽ đầy đủ và rộng hơn “thu nhập giới hạn nhưng việc đánh thuế TNCN cũng phức tạp và gặp nhiều khó khăn hơn.
Còn nếu dựa vào cơ sở “thu nhập giới hạn” thì việc đánh thuế TNCN sẽ bị bỏ sót nhiều khoản thu nhập, và không công bằng nếu các khoản thu nhập tương đồng nhưng bị đánh thuê 1NCN khác nhau. Do đó, một cơ sở cho thu nhập dựa trên tổng hợp các dặc điểm chung sẽ ra đời phù hợp hơn với khái niệm được giải thích như sau: “thu nhập là tông các giá trị tài sản và của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ mà một chủ thể nào đó trong nền kinh tế xã hội tạo ra và nhận được từ các nguồn lao động, tài sản. đầu tư thông qua quá trình phân phổi tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm”. - Căn cứ vào mục đích và quản lý thuế ra sao mà thu nhập được chỉa theo các tiêu thức khác nhau: Tiêu thức về “nguồn tạo nên thu nhập": từ hoạt động lao động, hoạt động kinh doanh, đầu tư, chuyển đổi quyền sở hữu đối với tài sản hay thu nhập khác.
10 Tiêu thức về “mức độ thường xuyên của thu nhập” Tiêu thức về “lãnh thổ phát sinh thu nhập” Tiêu thức về “chủ thể thụ hưởng thu nhập” Tiêu thức về “tính hợp pháp của thu nhập” - Trong các cách phân loại trên thì tiêu thức về “nguồn tạo nên thu nhập” được áp dụng phổ biển hầu hết các quốc gia với mục đích để có các cách áp thuế phù hợp với với từng loại thu nhập gồm: tiền lương, lợi nhuận từ kinh doanh, đầu tư, chuyến đối quyển sở hữu tài sản và các nguồn thu nhập khác.