chương 1 bao gồm: Thiết kế nghiên cứu, các giả thuyết trong nghiên cứu, tổng thể của nghiên cứu, nguồn dữ liệu và các biến sử lý được sử dụng trong nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 4 sẽ trình bày kết quả thống kê mô tả các biến về tinh thần thuế, chất lượng thể chế và kinh tế ngầm. Ước lượng sự tác động của tinh thần thuế, chất lượng thể chế đến nền kinh tế ngầm một số nước khu vự Đông Nam Á. 4 Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách.
Trong chương này tác giả sẽ trình bày tóm tắt lại kết quả nghiên cứu có được và thảo luận các kết quả, đồng thời nêu lên những điểm nỗi bật, hạn chế của nghiên cứu và đề nghị hướng nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU Chương này sẽ trình bày một số lý thuyết liên quan đến tinh thần thuế, chất lượng thể chế và kinh tế ngầm. Các nghiên cứu về tinh thần thuế, chất lượng thể chế và sự tác động của hai yếu tố trên đến nền kinh tế ngầm.1 Kinh tế ngầm Kinh tế ngầm được đặc trưng với những tên gọi khác nhau, mỗi tên gọi phản anh một thuộc tính mô tả nó. Kinh tế ngầm (underground), khu vực không chính thức (informal sector), Kinh tế ẩn (hidden Economy), Kinh tế song song (parallel Economy), Kinh tế thứ hai (Second Economy) Kinh tế đen (Black Economy).
Tuy nhiên, trong nghiên cứu này sẽ thống nhất chung được gọi là kinh tế ngầm. Dù được gọi bằng nhiều tên khác nhau nhưng tất cả tên gọi trên đều mang ý nghĩa chung đó là phản ánh khu vực kinh tế tồn tại song song với khu vực kinh tế chính thức. Một số định nghĩa thường được sử dụng trong các nghiên cứu trên thế giới thể hiện rằng, kinh tế ngầm bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế được tính toán (hoặc quan sát) chính thức vào tổng sản phẩm quốc gia (GNP) nhưng không được đăng ký (Edgar L. Smith (1994) định nghĩa kinh tế ngầm bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế xảy ra trên thị trường hàng hóa và dịch vụ, bất kể hợp pháp hay không, không được đo lường chính thức và được tính toán trong giá trị GDP của nền kinh tế quốc gia.
Nói cách khác, kinh tế ngầm có thể được định nghĩa là các hoạt động kinh tế và những khoản thu nhập tránh sự điều tiết của chính phủ và hệ thống thuế (Feige (1989), Dell’ Anno và Schneider, 2004). Có quan điểm cho rằng kinh tế ngầm phát triển qua thời gian và tuân thủ theo “nguyên tắc nước chảy”: kinh tế ngầm tự điều chỉnh để thay đổi cho phù hợp với hệ thống thuế, cách thức xử phạt của cơ quan thuế và thái độ, đạo đức của xã hội (Mogensen, Kvist, Kormendi, Pedersen, 1995). Bảng 1 sẽ phân loại các hình thức hoạt động của kinh tế ngầm.1 Phân loại hình thức hoạt động của kinh tế ngầm Giao dịch bằng tiền Giao dịch không bằng tiền Mua bán hàng hóa bị cướp, mua bán Trao đổi: Ma túy, hàng hóa bị cướp, buôn Hoạt động phi và sản xuất ma túy, mại dâm, cờ bạc, lậu. pháp buôn lậu và gian lận.
Trồng trọt hay sản xuất ma túy để sử dụng cá nhân Trộm cắp để sử dụng cá nhân Trốn thuế Tránh thuế Trốn thuế Tránh thuế Thu nhập không Giảm giá để Trao đổi trực Các công việc tự làm được ghi nhận từ nhân viên mua tiếp hàng hóa và (không thuê mướn việc làm cá nhân sản phẩm của dịch vụ hợp nhân công) và được sự Hoạt động hợp 1 Thu nhập, lương và công ty pháp trợ giúp của người Pháp tài sản từ công việc Các loại "phúc thân, hàng xóm. không được ghi lợi được miễn nhận lại liên quan thuế"2 đến hàng hóa và dịch vụ hợp pháp Nguồn: Rolf Mirus và Roger S.2 Nguyên nhân của kinh tế ngầm Friedrich Schneider (2014) đưa ra những nguyên nhân tác động mạnh và chính yếu gây ra nền kinh tế ngầm bao gồm: Gánh nặng về đóng góp thuế và an sinh xã hội, chất lượng thể chế, những quy định, dịch vụ khu vực công, tinh thần thuế, chính sách răn đe, khu vực nông nghiệp, nền kinh tế chính thức, tự làm chủ. Được tóm tắt thành bản ở trang sau. 1 Có thể xem đây như là một phần của các loại phúc lợi miễn thuế.
2 Các loại phúc lợi miễn thuế được liệt kê như sau: Bảo hiểm sức khỏe (Ngoài bảo hiểm Y tế bắt buộc), hoàn tiền chăm sóc con cái, hoàn tiền học phí, sử dụng cá nhân xe công ty, các chi phí cho cuộc sống. Hiện nay Việt Nam đã bổ sung thuế phúc lợi vào luật lao động, nhưng rất khó quản lý và thu thuế. 7 Một sai lệch trong gánh nặng thuế sẽ ảnh hưởng đến lao động trong mô hình, lao động – nghĩ ngơi dẫn đến sẽ cung ứng nguồn lao động cho nền kinh tế ngầm. Một khác biệt lớn giữa tổng chi phí lao động Gánh nặng về trong nền kinh tế chính thức và thu nhập sau khi đã nộp thuế (Từ đóng góp thuế và công việc) dẫn tới động lực đòi giảm thuế thu nhập và làm việc tại an sinh xã hội nền kinh tế ngầm.
Thuế thu nhập này phụ thuộc vào gánh nặng an sinh xã hội và tổng gánh nặng thuế làm cho cá nhân muốn gia nhập nền kinh tế ngầm. Chất lượng của các tổ chức công cộng là yếu tố quyết định cho sự phát triển của nền kinh tế ngầm. Một bộ máy quan liêu với quan chức tham nhũng cao dẫn đến hoạt động ở nền kinh tế ngầm lớn hơn và khi đàm bảo nguyên tắc của pháp luật bằng cách bảo vệ quyền sở hữu và Chất lượng thể hợp đồng thực thi sẽ làm tăng lợi ích của khu vực kinh tế chính thức. chế Một mức độ nhất định về thuế, chủ yếu là chi tiêu cho dịch vụ công thì đó là một chính sách hiệu quả.
Nền kinh tế ngầm phát triển như hệ quả về sự thất bại của các tổ chức chính trị trong việc thúc đẩy một nền kinh tế thị trường hiệu quả. Những quy định, ví dụ như quy định trong thị trường lao động hoặc rào cản thương mại là yếu tố quan trọng làm giảm sự tự do cho các cá Những quy định nhân trong nền kinh tế chính thức. Dẫn đến sự gia tăng chí phí lao động trong nền kinh tế chính thức điều này làm gia tăng động lực cá nhân di chuyển vào nền kinh tế ngầm. Sự gia tăng của nền kinh tế ngầm sẽ dẫn đến thu nhập của nhà nước giảm, do đó giảm chất lượng và số lượng hàng hóa, dịch vụ khu vực công.
Điều này dẫn đến việc tăng thuế suất đối với các doanh nghiệp Dịch vụ khu vực và cá nhân mặc dù rằng chất lượng dịch vụ hàng hóa công vẫn tiếp công tục giảm. Hậu quả là khuyến khích mạnh mẽ hơn để tham gia vào nền kinh tế ngầm. Các quốc gia có thu nhập cao hơn, thuế suất thấp hơn, ít luật và các quy định cũng như các quy định tốt hơn, mức độ tham 8 nhũng thấp hơn sẽ có nền kinh tế ngầm nhỏ hơn. Hiệu quả của khu vực công có tác động gián tiếp đến quy mô của nền kinh tế ngầm vì nó ảnh hưởng đến tinh thần thuế.
Tuân thủ thuế dẫn đến một hợp đồng tâm lý thuế đòi hỏi các quyền lợi và nghĩa vụ nộp thuế của người dân, và chính phủ cũng vậy. Người nộp thuế luôn so Tinh thần thuế sánh giữa mức thuế họ nộp và giá trị dịch vụ công mà họ nhận được. Nếu người nộp thuế được đối xử như một đối tác thay vì một quan hệ thứ bậc lúc này người nộp thuế sẽ thoải mái hơn trong hợp đồng tâm lý thuế. Do đó, một tinh thần thuế tốt hơn sẽ làm giảm khả năng cá nhân sẽ tham gia ở nền kinh tế ngầm.
Các cuộc khảo sát thực nghiệm có ít bằng chứng để kết luận rằng tiền phạt và hình phạt có tác động làm giảm kích thước nền kinh tế ngầm. Chính sách răn Tuy nhiên kết quả thường rất yếu và kiểm tra nhân quả Granger cho đe thấy kích thước của nền kinh tế ngầm có thể bị tác động bởi chính sách rằng đe cụ thể là sẽ làm giảm kích thước của nền kinh tế ngầm Nhiều nghiên cứu đưa ra bằng chứng thuyết phục rằng công việc phi chính thức tập trung trong các lĩnh vực phân đoạn cao, với tỷ lệ rõ ràng cho lĩnh vực nông nghiệp. Một trong những lý do quan trọng đó Khu vực nông là năng lực thực thi của chính phủ bị hạn chế ở nông thôn. Tầm quan nghiệp trọng của nông nghiệp được tính bằng tỷ lệ phần trăm của GDP.
Tỷ lệ nông nghiệp lớn sẽ dẫn đến gia tăng kích thước của nền kinh tế ngầm, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi Sự phát triển của nền kinh tế chính thức là nhân tố quan trọng tác Nền kinh tế chính động lên kinh tế ngầm. Tỷ lệ thất nghiệp cao sẽ làm cho cá nhân thức quyết định gia nhập vào nền kinh tế ngầm, với các điều kiện khác không đổi. Khả năng tự làm chủ càng cao, dẫn đến hoạt động ở nền kinh tế ngầm Tự làm chủ càng cao, với các điều kiện khác không đổi. 9 Có rất nhiều nguyên nhân tác động đến một cá nhân quyết định tham gia vào nền kinh tế ngầm.
Tùy theo quan điểm và sự đánh giá của cá nhân về sự đánh đổi giữa chi phí của việc tham gia thị trường chính thức và lợi ích khi tham gia vào nền kinh tế ngầm. Nhưng tựu chung lại, được tóm tắt ở bảng trên thì nguyên nhân chính yếu nhất vẫn là yếu chủ quan (bao gồm tinh thần thuế và gánh nặng thuế) và yếu tố khách quan (bao gồm chất lượng thể chế, quy định, chất lượng quy định, khu vực công, chính sách răn đe…) 2.3 Phương pháp đo lường quy mô của nền kinh tế ngầm Mặc dù vấn đề kinh tế ngầm đã được thảo luận trong một thời gian dài và cuộc thảo luận để đưa ra một biện pháp đo lường kích thước của nền kinh tế ngầm vẫn chưa đi đến kết luận cuối cùng. Bởi vì việc đo lường hoạt động này vướng phải rất nhiều những khó khăn. Đã có nhiều phương pháp được đưa ra nhằm có một cái nhìn cụ thể hơn về kích thước của nền kinh tế ngầm, quy chung lại bao gồm ba phương pháp lớn.
- Phương pháp trực tiếp ở một mức độ vi mô đó nhằm mục đích xác định kích thước của bóng tối nền kinh tế tại một thời điểm cụ thể.