Chương 1 của luận văn sẽ trình bày các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu như: khái niệm, vai trò, nguyên tắc thu ngân sách nhà nước và chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động thu ngân sách nhà nước; sự cần thiết nâng cao hiệu quả thu ngân sách nhà nước và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thu ngân sách nhà nước, trong đó chủ yếu là nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí do Cục thuế quản lý. Thu ngân sách nhà nước 1. Khái niệm ngân sách nhà nước Từ điển kinh tế thị trường của Trung Quốc (1978) định nghĩa: “Ngân sách nhà nước là kế hoạch thu chi tài chính hàng năm của nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định”. Theo Lê Văn Ái và Bùi Tiến Hanh (2010), định nghĩa “NSNN là bản dự toán thu - chi tài chính của nhà nước trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm”.
Theo Luật NSNN (2015) có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017, “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”. Khái niệm này có lẽ là khái niệm cơ bản trong các khái niệm trên. Ở Việt nam theo Luật Ngân sách Nhà nước Việt Nam (2015) thì Chính phủ Việt Nam quy định năm ngân sách là năm dương lịch bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc ngày 31/12 hàng năm. Ở Anh, Ấn Độ, Canada, Hồng Kông, Nhật Bản thì năm ngân sách bắt đầu từ ngày 1 tháng 4 của một năm và kết thúc vào cuối ngày 31 tháng 3 năm kế tiếp.
Ở Bỉ, Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Nga, Pháp, Thái Lan, Thụy Sĩ, Trung Quốc năm ngân 2 sách trùng với năm dương lịch như ở Việt Nam. Riêng ở Mỹ năm ngân sách bắt đầu từ ngày 01 tháng 10 của một năm và kết thúc vào cuối ngày 30 tháng 9 năm kế tiếp. Tóm lại, năm ngân sách có thể trùng hoặc lệch với năm dương lịch, tùy theo từng quốc gia vì để tránh cho công việc tổng kết ngân sách đầy phức tạp và bận rộn trùng với thời điểm cuối năm dương lịch cũng như theo đặc thù từng quốc gia. Khái niệm thu ngân sách nhà nước Nhà nước đã đặt ra các khoản thu ngân sách cho mọi công dân đóng góp để hình thành nên quỹ tiền tệ của mình.
Thực chất, thu ngân sách nhà nước là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước. Thu ngân sách nhà nước để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp và theo phương thức bắt buộc là chủ yếu. Tuy nhiên, thu ngân sách nhà nước phải căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế như các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả, thu nhập, lãi suất, v.
Tóm lại, thu ngân sách là hệ thống các khoản thu, phản ánh các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính nhằm hình thành quỹ ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Theo Luật Ngân sách Nhà nước Việt Nam (2015), nội dung các khoản thu NSNN bao gồm: - Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật; - Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; - Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; - Các khoản viện trợ; - Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Vai trò của thu ngân sách nhà nước Thu NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động của nhà nước và nền kinh tế - xã hội, cụ thể là: 3 Đáp ứng nhu cầu chi tiêu phục vụ cho hoạt động kinh tế chính trị xã hội của nhà nước Thu NSNN bảo đảm nguồn vốn để thực hiện các nhu cầu chi tiêu của nhà nước, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước. Vì NSNN được xem là quỹ tiền tệ tập trung quan trọng nhất của nhà nước và được dùng để giải quyết những nhu cầu chung của nhà nước về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, hành chính, an ninh và quốc phòng.
Xuất phát từ vai trò này, việc tăng thu NSNN là rất cần thiết, được xem là một nhiệm vụ hàng đầu của hoạt động tài chính vĩ mô. Các khoản thu của NSNN chủ yếu bắt nguồn từ khu vực sản xuất kinh doanh dưới hình thức thuế. Nhà nước dùng vốn NSNN để đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như giao thông, điện, nước thuỷ lợi… Đây là những lĩnh vực rất cần cho sự phát triển kinh tế xã hội nhưng tư nhân không muốn đầu tư (do tỷ suất lợi nhuận thấp, thời gian hoàn vốn chậm) hoặc không đủ khả năng (về vốn và trình độ) để đầu tư. Là công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước Thông qua thu NSNN, nhà nước thực hiện việc quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội nhằm hạn chế những mặt khuyết tật, phát huy những mặt tích cực của nó và làm cho nó hoạt động ngày càng hiệu quả hơn.
Để đảm bảo lợi ích cho nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng nhà nước phải sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trường nhằm bình ổn giá cả thông qua công cụ thuế và các khoản chi từ ngân sách nhà nước dưới các hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ hàng hoá, tài chính. Với công cụ thuế, nhà nước có thể can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm định hướng cơ cấu kinh tế, định hướng tiêu dùng. Ví dụ, đối với các ngành nghề cần ưu tiên phát triển thì nhà nước sẽ có chế độ thuế ưu đãi, giảm nhẹ hoặc miễn thuế và ngược lại. Hoặc để định hướng tiêu dùng cho toàn xã hội theo hướng kích cầu hay hạn chế cầu tiêu dùng thì nhà nước sẽ giảm thuế hoặc đánh thuế cao đối với loại hàng hóa xa xỉ như tăng thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu ở mặt hàng ô tô, máy bay… Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và thực hiện chính sách xã hội của nhà nước 4 Nền kinh tế thị trường với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, nhà nước phải có một chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư.
Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính hữu hiệu được nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, với các sắc thuế như thuế thu nhập cá nhân luỹ tiến, thuế tiêu thụ đặc biệt một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách mặt khác lại điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao. Nguyên tắc thu ngân sách nhà nước Thiết lập một hệ thống thu ngân sách, đặc biệt là thu thuế không chỉ nhằm mục đích duy trì và đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước mà còn phải chứa đựng các mục tiêu kinh tế xã hội khác. Do đó để thiết lập hệ thống ngân sách ổn định và bền vững thì theo Dương Thị Bình Minh, Sử Đình Thành (2004), hoạt động thu NSNN cần phải dựa trên các nguyên tắc nhất định sau: Nguyên tắc ổn định và lâu dài: Trong những điều kiện hoạt động bình thường thì cần phải ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế không được gây xáo trộn lớn trong hệ thống thuế, đồng thời tỷ lệ động viên của nhà nước phải thích hợp, đảm bảo kích thích nền kinh tế tăng trưởng, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Nguyên tắc này một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hóa ngân sách mặt khác kích thích người nộp ngân sách cải tiến đẩy mạnh sản xuất kinh doanh.
Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng: Việc thiết lập hệ thống thu ngân sách, cụ thể là thuế phải có quan điểm công bằng đối với người chịu thuế, không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế. Thiết kế hệ thống này dựa vào khả năng thu nhập của mỗi người chịu thuế. Nguyên tắc rõ ràng và chắc chắn: Trong thiết kế hệ thống ngân sách, cụ thể là thuế thì các điều luật của các sắc thuế phải rõ ràng, cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế… để tránh tình trạng lách luật, trốn thuế. Hơn nữa việc bổ sung các điều khoản trong sắc thuế không phải lúc nào cũng thực hiện được, cho nên các điều khoản trong luật phải bao quát và phù hợp với các hoạt động của nền kinh tế xã hội.
5 Nguyên tắc đơn giản: Trong mỗi sắc thuế cần hạn chế số lượng thuế suất xác định rõ mục tiêu chính không đề ra quá nhiều mục tiêu trong một sắc thuế. Có như vậy mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai luật thuế vào thực tiễn, góp phần làm thuận lợi cho hoạt động thu NSNN, cụ thể là thu thuế. Nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế: theo nguyên tắc này thiết lập hệ thống thuế phải đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế về đối tượng tính thuế, phương thức thu nộp, thuế suất, đồng thời phải thực hiện đầy đủ các cam kết mang tính quốc tế. Nguồn thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước phản ảnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước sử dụng quyền lực chính trị để phân phối các nguồn tài chính của xã hội dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước.
Nhìn chung, thu ngân sách nhà nước bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay nhà nước để hình thành quỹ ngân sách nhà nước đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Như vậy, về cơ bản thu ngân sách nhà nước bao gồm thuế, phí, lệ phí, tài nguyên và các khoản thu khác trong phạm vi quản lý để thực hiện các nhiệm vụ chi riêng của nhà nước. Theo Bùi Tiến Hanh và Phạm Thị Hoàng Phương (2010), nguồn thu ngân sách nhà nước bao gồm: “Các khoản thu từ thuế, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp theo quy định nhà nước; nguồn vay và viện trợ và các khoản thu khác”.