BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM ------------------- NGUYỄN THỊ HỒNG LOAN CƠ SỞ HỢP LÝ CỦA THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2012 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM ------------------- CHƢƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT NGUYỄN THỊ HỒNG LOAN CƠ SỞ HỢP LÝ CỦA THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Chính sách công Mã số: 603114 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ THÀNH TỰ ANH Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2012 i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện.
Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều đƣợc dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi. Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trƣờng Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chƣơng trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright. Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 6 năm 2012 Tác giả Nguyễn Thị Hồng Loan ii LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa học và bài luận văn này tôi đã cần đến rất nhiều sự giúp đỡ của ba mẹ, thầy cô, Lãnh đạo cơ quan, các anh chị đồng nghiệp và tập thể bạn bè trong khóa học. Trƣớc tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến ba mẹ, ngƣời đã luôn ủng hộ và truyền nghị lực để tôi có thể bay xa, bay cao trong cuộc sống và học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo cơ quan và các anh chị đồng nghiệp ở Sở Nội vụ tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã tin tƣởng và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học. Tôi cảm ơn tất cả Quý thầy cô Chƣơng trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright và trƣờng Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã hết lòng giảng dạy, hƣớng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học. Tôi cũng chân thành cảm ơn tập thể các anh chị em học viên lớp MPP2 đã luôn sát cánh và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trƣờng. Tôi xin cảm ơn những góp ý hữu ích của thầy Đinh Công Khải, thầy Phan Hiển Minh, thầy Nguyễn Xuân Thành và nhóm seminar chính sách số 2 đối với luận văn.
Và tôi đặc biệt gởi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy - Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, ngƣời đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hƣớng dẫn tôi hoàn thành luận văn. Vì thời gian nghiên cứu ngắn và trình độ bản thân còn hạn chế nên sai sót là không thể tránh khỏi, rất mong nhận đƣợc ý kiến đóng góp của Quý thầy cô và các bạn. Nguyễn Thị Hồng Loan Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2012 iii MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN. ii MỤC LỤC.
iii DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU. v DANH MỤC BẢNG. vi DANH MỤC BIỂU. viii CHƢƠNG 1.
Bối cảnh nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu. Câu hỏi nghiên cứu. Phƣơng pháp phân tích.
KHUNG PHÂN TÍCH. Các nghiên cứu trƣớc. NỘI DUNG PHÂN TÍCH. Thu thuế theo Pháp lệnh thuế nhà, đất.
Thu thuế theo Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Ƣớc thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2008. Ƣớc thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2009. Hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế tối ƣu. Hiệu quả thu thuế. Công bằng xã hội. Tính khả thi về mặt hành chính.
Có quá nhiều mục tiêu khi xây dựng luật. Dự thảo thiết kế thuế nhà bên cạnh thuế đất khá phức tạp. Chi phí quản lý và tuân thủ Luật số 48/2010/QH12 khá cao. Lựa chọn phƣơng án định giá và tài sản chịu thuế khả thi nhất.
KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH. Đƣa nhà vào diện chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Xác định giá tính thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
37 v DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU BĐS : Bất động sản CBCC : Cán bộ, công chức GDP : Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm trong nƣớc) Luật số 48/2010/QH12 : Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Nhà : Nhà và các công trình gắn liền trên đất NSNN : Ngân sách Nhà nƣớc Pháp lệnh thuế nhà, đất : Pháp lệnh thuế nhà, đất ngày 31/7/1992 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế nhà, đất ngày 19/5/1994 SXKD : Sản xuất, kinh doanh Thuế liên quan đến nhà và đất : Thuế sử dụng đất nông nghiệp và Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Thuế nhà, đất : Thuế nhà, đất hoặc Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh : Thành phố Hồ Chí Minh UBND : Ủy ban nhân dân vi DANH MỤC BẢNG Bảng 1. So sánh thuế liên quan đến nhà và đất (% GDP). Các tiêu chí của một sắc thuế tốt.
Thống kê thuế nhà, đất qua các năm. Ƣớc tính số thu thuế năm 2008. Độ nổi của thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2008. Ƣớc tính số thu thuế năm 2009.
Độ nổi của thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2009. Tỷ trọng thuế đất ở đô thị và đất SXKD phi nông nghiệp năm 2008. Số thuế thu đƣợc theo các phƣơng án. 27 vii DANH MỤC BIỂU Biểu 1.
Cơ cấu thu NSNN qua các năm. Thâm hụt NSNN qua các năm từ góc nhìn so sánh. Thu, chi và thâm hụt ngân sách qua các năm. Tổn thất xã hội dƣới tác động của thuế nhà, đất.
Cơ cấu đất đai năm 2005 và 2008. Chỉ số giá tiêu dùng các năm so với năm 2005. Cơ cấu đất đai năm 2009 và xu hƣớng. Nguồn cung tƣơng lai căn hộ bán ở TP.
22 viii TÓM TẮT Ngày 17/6/2010, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (Luật số 48/2010/QH12) có hiệu lực ngày 01/01/2012. Tuy nhiên, các tranh luận trƣớc khi luật đƣợc thông qua vẫn chƣa đƣợc giải đáp hợp lý, chƣa có tính thuyết phục. Cụ thể, khi Chính phủ trình Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 6 Dự án Luật thuế nhà, đất, các phƣơng tiện truyền thông, báo chí đã nổi lên nhiều tranh luận sôi nổi xung quanh dự thảo này nhƣ: Có nên đƣa nhà vào diện chịu thuế không? Xác định giá đất tính thuế nhƣ thế nào?. Và đến ngay trƣớc khi Luật số 48/2010/QH12 đƣợc Quốc hội thông qua, vẫn có nhiều đại biểu muốn đánh thuế nhà và vẫn có dƣ luận rằng dự luật quá sơ sài.
Bằng phƣơng pháp phân tích định tính, khảo sát thực tế và tổng hợp kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới, nghiên cứu thực hiện phân tích Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp để tìm cơ sở hợp lý của thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ở Việt Nam. Những điểm sau tóm tắt phát hiện và khuyến nghị chính sách của ngƣời nghiên cứu: 1. Về phƣơng diện lý thuyết, một sắc thuế đƣợc đánh giá tốt khi bảo đảm đƣợc tính hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội và khả thi về mặt quản lý. Đồng thời, từ góc nhìn của Bộ Tài chính, khả năng tăng nguồn thu là một chỉ báo quan trọng cho sự thành công của một sắc thuế mới.
Nguồn thu thuế nhà, đất theo Pháp lệnh thuế nhà, đất rất thấp, chƣa ổn định, chƣa thể hiện độ nổi theo nền kinh tế và không công bằng. Cơ sở thuế hẹp, chỉ thực hiện thu thuế đất mà chƣa thu và quy định cụ thể thuế nhà. Thiết kế hệ thống thang mức thuế đất khá phức tạp. Căn cứ tính thuế đất đƣợc xác định theo mức thuế sử dụng đất nông nghiệp chƣa sát thực tế, vừa làm thất thoát nguồn thu ngân sách Nhà nƣớc (NSNN) vừa không đảm bảo công bằng xã hội.
Do đó, Nhà nƣớc ban hành Luật thay thế Pháp lệnh thuế nhà, đất là rất hợp lý. Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đã khắc phục phần nào bất cập của Pháp lệnh thuế nhà, đất khi quy định giá đất tính thuế không căn cứ vào mức thuế sử dụng đất nông ix nghiệp. Nhƣng Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp vẫn chƣa có bƣớc đột phá, vẫn tạo nguồn thu rất thấp cho NSNN, chƣa công bằng và chƣa thể hiện độ nổi theo nền kinh tế. Để có một sắc thuế tốt, gia tăng nguồn thu NSNN, công bằng và có độ nổi theo nền kinh tế, Chính phủ nên thu thuế nhà và các công trình gắn liền trên đất (gọi chung là nhà) bên cạnh thuế đất.
Đất và nhà đƣợc định giá chung theo một đơn vị bất động sản (BĐS). Giá này trƣớc mắt nên để ngƣời dân tự kê khai bên cạnh cơ chế khuyến khích trung thực nhƣ: đánh thuế theo một tỷ lệ tƣơng đối giá trị khai báo; giá trị khai báo đƣợc niêm yết công khai trên mạng internet và dùng để thực hiện các giao dịch liên quan đến nhà và đất giữa Chính phủ với ngƣời dân và giữa ngƣời dân với nhau; thƣởng phạt nghiêm minh đối với cá nhân và tổ chức có liên quan. Tăng cƣờng công tác thông tin, tuyên truyền bên cạnh việc sử dụng hiệu quả nguồn thu để nâng cao ý thức tự giác và tinh thần tích cực trong ngƣời dân và cán bộ, công chức (CBCC). Trong thời gian 5-10 năm tiếp theo, sau khi Nhà nƣớc đã có một ngân sách đủ lớn và thời gian đủ dài, sẽ nghiên cứu, ứng dụng các kỹ thuật hiện đại vào định giá tài sản làm căn cứ tính thuế và các giao dịch khác giữa Nhà nƣớc với ngƣời dân và giữa ngƣời dân với nhau.
Bối cảnh nghiên cứu Thu ngân sách Việt Nam hiện nay phụ thuộc chủ yếu vào ba nguồn lớn là: thu từ dầu khí, doanh nghiệp Nhà nƣớc và thuế xuất nhập khẩu (Biểu 1. Mỗi nguồn thu trên đều không ổn định và kém bền vững, trong khi thâm hụt NSNN ngày càng tăng đến mức báo động (Biểu 1.2) và nhiệm vụ chi tiêu NSNN ngày càng tăng (Biểu 1. Do đó, nhu cầu tăng nguồn thu, hƣớng đến cơ cấu ổn định, bền vững là rất cần thiết. Cơ cấu thu NSNN qua các năm Nguồn: Bộ Tài chính, Quyết toán các năm 2000-2008 2 Biểu 1.
Thâm hụt NSNN qua các năm từ góc nhìn so sánh 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2 0 Phần trăm GDP -2 China -4 Thailand -6 -8 Malaysia -10 Vietnam -12 Nguồn: ADB, trích trong Vũ Thành Tự Anh (2010), Ngân sách cân bằng và tài trợ thâm hụt Ngân sách, Chƣơng trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright TP. Hồ Chí Minh Biểu 1.