Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đánh giá đất đai và sử dụng đất bền vững 1. Cơ sở khoa học của đánh giá đất đai 1. Đánh giá đất đai dựa vào điều kiện tự nhiên Nguồn gốc của đất Nguồn gốc của đất là đá mẹ.
Dưới tác động của các quá trình lý hoá sinh học lâu đời của trái đất bởi vòng đại tuần hoàn địa chất và tiểu tuần hoàn sinh vật, các loại đá bị phá huỷ và hình thành nên đất. Trải qua sự tiến hoá và phát triển của thế giới sinh vật từ hạ đẳng đến thượng đẳng, chất hữu cơ của chúng đã tạo nên thành phần hữu cơ cho đất, quyết định sự khác biệt cơ bản giữa đá, đất và cùng với các chất vô cơ không khí và nước tạo nên độ phì nhiêu của đất, là môi trường sống quan trọng của sinh vật nói chung và của các loại cây trồng nói riêng. Các điều kiện sinh thái của đất Theo Vũ Cao Thái, 1989 [82] đất là môi trường sống cơ bản của hầu hết các sinh vật sống trên trái đất, trong đó có con người. Môi trường đất chịu tác động liên tục của các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội làm thay đổi không ngừng các đặc tính lý, hoá, sinh học của mỗi loại đất.
Bao hàm các yếu tố đó là điều kiện sinh thái đất, gồm: khí hậu, địa chất địa mạo, địa hình, các quá trình hình thành đất, chế độ nước, thực vật và hoạt động của con người. Các yếu tố của điều kiện sinh thái đất đều có thể tác động tốt (tích cực/thuận lợi) hoặc xấu (hạn chế) đến môi trường đất tuỳ thuộc đặc tính tiểu vùng sinh thái tự nhiên, hệ sinh thái, trình độ và nhu cầu sản xuất, đời sống của con người. - FAO tổng kết: + Đánh giá đất đai về mặt tự nhiên chỉ ra mức độ thích hợp đối với sử dụng đất hoàn toàn dựa trên cơ sở các điều kiện tự nhiên mà không xem xét đến các điều kiện kinh tế. + Đánh giá đất đai về mặt tự nhiên nhấn mạnh các khía cạnh bền vững tương đối của sự thích hợp của các điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng… vì chúng ít thay đổi hơn so với các yếu tố kinh tế.
c 5 + Đánh giá đất đai về mặt tự nhiên được sử dụng để chia các đơn vị đất đai thành các nhóm quản lý, phục vụ các nghiên cứu chi tiết và hoàn toàn có giá trị trong thời gian lâu dài vì các mức thích hợp về mặt tự nhiên thay đổi rất chậm. Tóm lại: Đánh giá đất dựa vào điều kiện tự nhiên là việc tìm hiểu về quá trình hình thành đất và mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành đất, các điều kiện sinh thái đất và các thuộc tính của chúng ảnh hưởng tích cực hay hạn chế, mang tính quy luật hoặc ngược lại đến hiệu quả của việc sử dụng đất, từ đó đề xuất các giải pháp cải tạo, sử dụng có hiệu quả nhất. Tuỳ thuộc mục đích đặt ra mà lựa chọn các yếu tố, chỉ tiêu của từng yếu tố và tiêu chuẩn đánh giá đất phù hợp trong điều kiện cụ thể của từng quy mô, vùng và quốc gia có thể giống hoặc khác nhau. Đánh giá đất đai dựa vào điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường Hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất theo FAO, 1993 [121]; đánh giá đất đai dựa vào điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường gồm: a, Đánh giá đất đai dựa vào điều kiện kinh tế * Các chỉ tiêu về điều kiện kinh tế: - Tình hình kinh tế chung: tình hình kinh tế so với khu vực, tỷ lệ hộ giàu nghèo.
- Các chỉ số về tổng thu nhập, tốc độ phát triển kinh tế, tổng thu bình quân/đầu người. - Cơ cấu ngành nghề, tổng thu nhập và tỷ phần của các ngành nghề,. - Cơ sở hạ tầng; - Những thế mạnh chính của vùng,. * Một số chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng đất: Đánh giá kinh tế đất là các ước tính thực tế của sự thích hợp về kinh tế ở mỗi đơn vị đất đai theo các chỉ tiêu về kinh tế.
Các chỉ tiêu này cũng thể hiện mối liên quan tới các đặc tính của đất đai. Các chỉ tiêu kinh tế thường dùng trong đánh giá đất là: - Tổng giá trị sản phẩm (T): T= p1.qn Trong đó: p: là khối lượng từng loại sản phẩm được sản xuất/ha/năm; q: là đơn giá của từng loại sản phẩm của thị trường cùng thời điểm; T: là tổng giá trị sản phẩm của 1 ha đất canh tác/năm. c 6 - Thu nhập thuần tuý (N): N = T - Csx Trong đó: Csx: là chi phí sản xuất của 1 ha đất canh tác/năm bao gồm cả chi phí vật chất và chi phí lao động; N: là thu nhập thuần tuý của 1 ha đất canh tác/năm; hiệu quả sử dụng vốn (H): H = T/Csx; giá trị ngày công lao động = H/số công lao động/ha/năm. b, Đánh giá đất đai dựa vào hiệu quả xã hội - Giá trị sản xuất trên lao động nông lâm (nhân khẩu nông lâm).
- Tỷ lệ giảm hộ đói nghèo. - Mức độ giải quyết công ăn việc làm, thu hút lao động. - Sản phẩm tiêu thụ trên thị trường. - Đời sống người lao động, cơ sở hạ tầng.
c, Đánh giá đất đai dựa vào hiệu quả môi trường - Tỷ lệ che phủ. - Khả năng bảo vệ, cải tạo đất. - Tỷ lệ diện tích đất trống được trồng rừng. - Tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp được giao sử dụng.
Các khái niệm cơ bản trong đánh giá đất Theo giáo trình Đánh giá đất của Nguyễn Ngọc Nông và cs (2014) [61] các khái niệm trong đánh giá đất gồm: - Đánh giá đất đai: là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt đất/khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng cần phải có. - Đất đai (Land): là môi trường tự nhiên bao gồm khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, thuỷ văn, thực vật, những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đất hoặc cụ thể hơn: là một phần bề mặt trái đất bao gồm khí quyển, thổ nhưỡng, đá, thuỷ văn, quần thể động thực vật và hoạt động của con người trong quá khứ, hiện tại, được đánh giá là có ảnh hưởng đáng kể đến sử dụng đất hiện tại, tương lai của con người. Với khái niệm này, đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất (khí hậu, dáng đất/địa c 7 hình, địa mạo, đất, thuỷ văn, thảm thực vật tự nhiên bao gồm cả rừng, cỏ dại trên đồng ruộng, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do các hoạt động của con người). - Đơn vị đất đai (Land Unit - LU): là những vạt đất được đặc trưng cụ thể để có thể nhìn thấy được và có thể xác định được trên khung địa lý.
Đơn vị đất đai được sử dụng làm cơ sở cho đánh giá đất là thể tổng hợp của nhiều loại bản đồ được chồng ghép lên nhau như bản đồ đất (hoặc nhóm đất), bản đồ các đường đẳng trị mưa, tổng tích ôn, bản đồ thuỷ lợi. - Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit - LMU): trong đánh giá đất (Land Evaluation - LE) đơn vị bản đồ đất đai là những khoanh, vạt đất được xác định trên bản đồ với những đặc tính và tính chất đất riêng biệt như chế độ nhiệt, độ dốc, địa hình, loại đất, chế độ nước. - Loại sử dụng đất (Land Utilization Type - LUT): là thực trạng sử dụng đất của vùng đất (đơn vị đất/khoanh đất/vạt đất) bởi các phương thức quản lý và kỹ thuật sản xuất đặc trưng với các điều kiện về kinh tế, xã hội và thời gian xác định. - Phân hạng thích hợp đất đai là công đoạn đối chiếu so sánh giữa các yêu cầu của loại sử dụng đất đai với các tính chất, đặc điểm của đơn vị đất đai để xác định mức độ thích hợp hoặc ngược lại là mức độ hạn chế.
- Đất nông nghiệp là đất được xác định sử dụng vào mục đích chủ yếu là sản xuất nông nghiệp như trồng các loại cây hàng năm và lâu năm, làm đồng cỏ chăn nuôi; nuôi trồng thuỷ sản; làm muối và đất nông nghiệp có rừng. - Đất sản xuất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm. Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác. - Dẫn theo Bùi Nam Sách, 2015 [74] quy hoạch thủy lợi là một lĩnh vực qui hoạch khó mang tính chất chuyên ngành và phụ thuộc chủ yếu vào mục tiêu phát triển kinh tế dài hạn của đất nước, của vùng tiến hành lập qui hoạch.
- Theo Tổng cục Quản lý đất đai, 2015 [91] chất lượng đất là thuộc tính của đất có ảnh hưởng tới tính bền vững đối với mục đích sử dụng đất cụ thể. Theo Nguyễn Thế Đặng và cs, 2012 [28]: c 8 - Nông nghiệp quảng canh: là giai đoạn tiếp sau của nông nghiệp nguyên thủy, là nền nông nghiệp chưa hoặc sử dụng rất ít các sản phẩm hóa học vô cơ như phân bón vô cơ, thuốc hóa học bảo vệ thực vật, chất kích thích tăng trưởng. Các biện pháp kỹ thuật hết sức giản đơn và công nghệ về giống hầu như chưa có gì. Năng suất cây trồng, vật nuôi thấp.
- Nông nghiệp thâm canh: là nền nông nghiệp chịu sự điều khiển của con người. Cùng với cuộc cách mạng xanh về giống, cùng với việc sử dụng với một khối lượng lớn phân bón vô cơ dễ tiêu, thuốc hóa học bảo vệ thực vật, chất kích thích tăng trưởng, là việc áp dụng hàng loạt các biện pháp kỹ thuật tiến bộ đã đưa năng suất cây trồng, vật nuôi lên rất cao. Trong giai đoạn nông nghiệp thâm canh, con người định trước được sản lượng cây con. Con người cũng điều khiển năng suất cây con trong khuôn khổ nào đó theo ý muốn.
- Nông nghiệp hữu cơ: phát triển vào cuối giai đoạn nông nghiêp thâm canh, là nền nông nghiệp sinh thái, nền nông nghiệp tự nhiên. Trong nền nông nghiệp này các phần vô cơ dễ tan, các thuốc hóa học bảo vệ thực vật và kích thích sinh trưởng vô cơ không được sử dụng. Quy trình sản xuất tuân theo những quy định nghiêm ngặt và theo gần với quy luật thiên nhiên. Năng suất cây trồng, vật nuôi không cao như nông nghiệp thâm canh, nhưng sản phẩm sạch và an toàn.
Cơ sở khoa học của sử dụng đất nông nghiệp bền vững 1.