chương 1 nêu rõ kết cấu 5 chương của luận văn. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Các khái niệm, phân loại 2. Đầu tư và đầu tư tư nhân: Theo kinh tế học vĩ mô, đầu tư là sự tăng chi phí làm tăng cường năng lực sản xuất ở trương lai, vì vậy đầu tư còn được gọi là tích lũy vốn.
Tổng đầu tư là một thành phần của tổng sản phẩm quốc nội GDP trong công thức GDP = C + I + G + X – M. Đầu tư là một hàm của thu nhập và lãi suất: I = f (Y, r), trong đó thu nhập tăng có tỷ lệ thuận làm tăng đầu tư và lãi suất có tỷ lệ nghịch với đầu tư do làm tăng chi phí vốn cho dự án đầu tư. Sachs - Larrain (1993) đã đưa ra định nghĩa tổng quát về đầu tư khi cho rằng đầu tư chính là sản lượng mà đã tích lũy và được dùng để tăng khả năng sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế đó. Cả sản lượng sản xuất trong nước hay được nhập khẩu đều được tính vào trong khái niệm này.
Các sản phẩm được tính đến bao gồm cả sản phẩm hữu hình và vô hình. Sản phẩm hữu hình như các công trình xây dựng, nhà xưởng, các loại máy móc,… Sản phẩm vô hình như công nghệ sản xuất, bằng phát minh sáng chế, sản phẩm phần mềm trí tuệ,… Vũ Tuấn Anh (2010) có đề cập đến đầu tư theo thống kê quốc tế và đầu tư theo thống kê của Việt Nam. Theo đó, tất cả quá trình làm tăng lên năng lực sản xuất vật chất đều được gọi là đầu tư. Tuy nhiên, có điểm khác biệt trong định nghĩa đầu tư ở Việt Nam so với thế giới về tổng tích lũy tài sản.
Chỉ tiêu tổng tích lũy tài sản khi được tính toán ở Việt Nam không hẳn chỉ là đầu tư, vì số tiền bỏ ra trong thời gian hạn định không phải chi đi vào trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà còn đổ vào các lĩnh vực khác. Do đó, tùy theo mục đích phản ánh mà đầu tư sẽ được gọi dưới tên gọi tổng tích lũy tài sản hay là vốn đầu tư. X (2004) có 4 nhóm đầu tư bao gồm đầu tư tư nhân, đầu tư công, đầu tư từ nước ngoài (bao gồm đầu tư trực tiếp và gián tiếp), đầu tư từ các tổ chức quốc tế. Trong đó đầu tư tư nhân là nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp tư nhân trong nước.
Mlambo & Oshikoya (2001) định nghĩa đầu tư tư nhân trong nước, sau này gọi tắt là đầu tư tư nhân là đầu tư mà các công ty có ở hữu tư nhân trong quốc gia đó sử dụng các nguồn lực sẵn có nhằm thu được lợi nhuận trong khoảng thời gian cụ thể. Đầu tư này có thể gồm đầu tư cố định và không cố định, như là đầu tư vào hàng hóa hay đầu tư vào máy móc phục vụ sản xuất. Còn theo Ghura (1997) thì cho rằng đầu tư tư nhân là một phần chính của nền kinh tế thị trường, có tác động mạnh đến tăng trưởng đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển. Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI Theo Quỹ tiền tệ thế giới IMF đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là hình thức đầu tư vượt ra khỏi biên giới, nhà đầu tư có thể sở hữu toàn bộ doanh nghiệp hay sở hữu tối thiểu 10% giá trị doanh nghiệp đó ở một nước khác trong một khoảng thời gian dài.
Theo WTO – Tổ chức thương mại thế giới, FDI là hoạt động đầu tư mà có sự di chuyển tài sản của một nhà đầu tư từ quốc gia này sang quốc gia khác, được gọi là quốc gia tiếp nhận đầu tư. Nhà đầu tư có quyền kiểm tra kiểm soát và quản lý khối tài sản dịch chuyển đó. Agosin & Machado (2005) định nghĩa FDI là hoạt động đầu tư kinh doanh xuyên quốc gia được thực hiện bởi các công ty đa quốc gia nhằm thu lợi nhuận từ việc buôn bán các sản phẩm sang thị trường nước tiếp nhận đầu tư. Hoặc đơn giản chỉ là thu lợi ích từ việc quảng bá thương hiệu.
Như vậy có thể tổng kết lại, FDI là sự dịch chuyển dòng vốn đầu tư ở nước đi đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư thông qua việc thiết lập các cơ sở sản xuất kinh 10 doanh nhằm tận dụng ưu thế về lực lượng lao động, giá nhân công, kinh nghiệm quản lý, trình độ công nghệ, vốn, … và các cá nhân hay doanh nghiệp FDI sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này ở nước tiếp nhận đầu tư. Đây cũng chính là khái niệm FDI được sử dụng trong giới hạn luận văn này. Thể chế và chất lượng thể chế Trong số những người tiên phong đưa ra khái niệm đầu tiên về thể chế thì Thorstein Veblen là đại diện tiêu biểu. Theo Thorstein Veblen (1899) Thể chế được xem như là các quy chuẩn hoặc quy tắc trong tình tình huống cụ thể xác định hành vi của cá nhân tổ chức.
Những quy chuẩn quy tắc này được chấp nhận và tuân theo bởi các thành viên của xã hội. Các thành viên có thể tuân thủ theo các quy chuẩn quy tắc một cách tự nguyện hoặc do có sự khống chế từ quyền lực bên ngoài của xã hội đó. Sau Thorstein Veblen, nhiều định nghĩa mới về thể chế đã được các nhà kinh tế học đưa ra trong đó có A. Schmid (1972), ông đưa ra định nghĩa thể chế là những mối quan hệ giữa mọi người trong một xã hội và được quy định cụ thể, những mối quan hệ này xác định quyền của một người trong mối liên hệ với quyền của nhiều người khác, đồng thời xác định quyền lợi, trách nhiệm của con người nói chung trong xã hội đó.
Geoffrey Hodgson (2006) cho rằng thể chế là những hệ thống quy luật xã hội định hình nên các mối tương tác xã hội. Đồng quan điểm Douglass C. North (1990) định nghĩa thể chế là luật chơi trong một xã hội mà con người đặt ra để hình thành nên sự tương tác giữa người với người trong xã hội đó. Các đặc điểm quan trọng của thể chế theo Douglass C.
North (1990) là: Thể chế do con người sáng tạo nên; Thể chế là các quy tắc để tạo nên ràng buộc về hành vi giữa người với người với nhau trong một xã hội; Thể chế có tác động chính lên hành vi của con người và tổ 11 chức trong xã hội chủ yêu thông qua khuyến khích. Nguyễn Hồng Nga (2015) có nhấn mạnh thêm quan điểm của Sokoloff về thể chế, chính khuôn khổ pháp lý và chính trị đã tạo ra những luật lệ, những nguyên tắc cho hoạt động của từng cá nhân, từng tổ chức; Đồng thời, thể chế phi chính thức cũng có ảnh hưởng đến các quyết định về kinh tế, nói cách khác, không chỉ thể chế kinh tế mà cả các loại hình thể chế khác đều ảnh hưởng đến quyết định đinh doanh của nhà đầu tư. Wolfgang Kasper & Manfred E. Streit (1998) đã đưa ra định nghĩa về thể chế như là các hoạt động tương tác của các thành phần trong xã hội bao gồm: Tương tác giữa con người với con người trong đời sống xã hội, trong các quyết định kinh tế, văn hóa, xã hội.
Mỗi cá nhân đều tương tác với các thành phần xã hội khác dựa trên niềm tin sẵn có của họ thông qua những quy tắc khuyến khích hoặc cấm đoán. Các quy tắc này được tổng hợp chung và cùng được gọi là thể chế. Kế thừa những quan điểm trước Phạm Duy Nghĩa (2012) cũng nêu rõ thể chế là một khái niệm rộng, tác giả sử dụng “luật chơi” để định nghĩa về thể chế, các luật chơi này có thể là chính thức hoặc phi chính thức. Các luật chơi lặp đi lặp lại dần dần sẽ hình thành nên thói quen, và quy định cách ứng xử của mọi thành viên trong xã hội.
Thể chế chính thức bao gồm hiến chương, hiến pháp, bộ luật, điều luật, văn bản dưới luật như nghị quyết, nghị định, thông tư,….Thể chế phi chính thức là những tập quán truyền thống, những điều cấm kỵ, kiêng khem truyền miệng,… hay các chuẩn tắc ửng xử nội bộ từng tổ chức nhỏ lẻ,…Thể chế phi chính thức có tác động điều chỉnh hành vi của các nhân tổ chức, đồng thời cũng có thể chỉnh sửa các quy tắc của thể chế chính thức. James (2006) lại xem xét thể chế trong phạm vi một quốc gia, ông cho rằng chính phủ đưa ra các thể chế để tạo nên khuôn khổ cho các hoạt động kinh tế xã hội chính trị của chính quốc gia đó. James (2006) phát hiện ra đặc điểm ở các nền 12 kinh tế phát triển là họ đều có tình trạng dân chủ tốt và các quy định pháp luật chặt chẽ, minh bạch. Ông khẳng định lại quan điểm thể chế tốt sẽ giúp thúc đẩy các hoạt động kinh tế được vận hành trơn tru hiệu quả, các hoạt động đầu tư buôn bán trao đổi hàng hóa sẽ càng được đẩy mạnh và tăng trưởng như là một điều tất yếu.
Trong khi đó, môi trường thể chế kém chính là tác nhân cản trở cỗ máy kinh tế vận hành, khiến các hoạt động trở nên ì ạch, trì trệ và chậm phát triển. Theo đặc tính của thể chế mà Acemoglu và Robinson (2010) đã phân thể chế thành ba loại: Thể chế chính trị; Thể chế quyền lực chính trị; Thể chế kinh tế. Các loại thể chế này chịu tác động qua lại lẫn nhau, trong đó thể chế kinh tế chịu tác động mạnh bởi thể chế chính trị. Trong mỗi loại thể chế lại được chia thành hai hình thái là thể chế tước đoạt và dung hợp.
Thể chế tước đoạt là hình thức mang tính chất tước đoạt, khai thác và loại trừ. Thể chế tước đoạt chính là tạo điều kiện dung hòa, trao quyền lợi cho và phúc lợi cho số đông. Như vậy theo hai tác giả này, chúng ta có thể chế kinh tế tước đoạt, thể chế kinh tế dung hợp, thể chế chính trị tước đoạt, thể chế chính trị dung hợp. Một xã hội theo hình thức thể chế kinh tế và chính trị tước đoạt, thì quyền lực tập trung trong tay một nhóm thiểu số, lợi ích nhóm được đề cao, một xã hội mà chỉ một nhóm người mới được hưởng công bằng, bình đẳng, không có tinh thần thương tôn pháp luật, cũng chính vì thế mà thị trường là một nơi đầy rẫy những rào cản, những quy tắc ngầm, nơi các nhà đầu tư không thể tự do gia nhập thị trường.