Chương 1: Lý luận cơ bản về thuế Thu nhập cá nhân và mô hình nghiên cứu các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến nguồn thu thuế Thu nhập cá nhân. Chương 2: Thực trạng nguồn thu thuế Thu nhập cá nhân và kết quả phân tích các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến nguồn thu thuế Thu nhập cá nhân tại Việt Nam. Chương 3: Giải pháp gia tăng nguồn thu thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam. 10 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ẢNH HƢỞNG NGUỒN THU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.
Cơ sở lý luận về Thuế Thu nhập cá nhân 1. Sự tồn tại khách quan của thuế Thu nhập cá nhân Thuế Thu nhập cá nhân là loại thuế phổ biến trên thế giới và đã ra đời hàng trăm năm. Thời kỳ đầu mới ban hành, thuế Thu nhập cá nhân các nước thường nhằm vào các đối tượng dễ đo lường như đất đai, tài sản, hàng hoá. Thuế Thu nhập cá nhân đầu tiên được áp dụng tại Hà Lan vào năm 1797, sau đó là Vương Quốc Anh vào năm 1799, Đức áp dụng năm 1808, Hoa Kỳ áp dụng muộn hơn vào năm 1864.
Các nước Châu Âu còn lại và Châu Úc, Newzealand, Nhật Bản cũng áp dụng thuế này vào cuối thế kỷ thứ 19. Các nước Châu Á như: Thái Lan áp dụng năm 1939, Philippines năm 1945, Hàn Quốc năm 1984, Indonesia năm 1949, Trung Quốc năm 1984. Các nước Đông Âu thuộc các nền kinh tế chuyển đổi như Romania năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992. cho đến nay có hơn 180 quốc gia áp dụng thuế Thu nhập cá nhân.
[1] Sự ra đời của thuế Thu nhập cá nhân bắt nguồn từ hai yêu cầu cơ bản đó là đảm bảo chi tiêu của nhà nước và thực hiện chức năng tái phân phối lại thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội. Trong bối cảnh Kinh tế - Chính trị - Xã hội phát triển, nhu cầu chi tiêu cho Nhà nước ngày càng lớn, các quốc gia tìm mọi cách khai thác mọi nguồn thu để đảm bảo mức chi tiêu ngày càng tăng của mình, trong đó thuế Thu nhập cá nhân là một trong những nguồn thu ngân sách quan trọng và bền vững. Ngoài ra hệ thống chính sách thuế Thu nhập cá nhân nói chung là một trong 11 những công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý và điều tiết vĩ mô các mặt hoạt động kinh tế, xã hội, đảm bảo công bằng xã hội, vì đây là loại thuế trực thu, góp phần điều tiết thu nhập xã hội, người có thu nhập cao sẽ nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp dẫn đến việc tái phân phối lại thu nhập xã hội. Khái quát về thuế Thu nhập cá nhân 1.
Khái niệm về thu nhập và thu nhập cá nhân Về mặt lý thuyết, theo các sách kinh điển, thu nhập là một phạm trù trừu tượng được quan niệm khác nhau dưới giác độ kinh tế và thuế: - Về kinh tế: Khái niệm thu nhập thường được hiểu trên cơ sở lý thuyết về nguồn tài sản và lý thuyết về sự tăng trưởng tài sản thuần tuý. + Theo lý thuyết về nguồn tài sản: thu nhập là tổng số của cải bổ sung hàng năm cho từng người từ nguồn kinh doanh hay lao động dự định mang lại. + Theo lý thuyết về tăng trưởng tài sản thuần tuý: thu nhập là tổng đại số các giá trị trên thị trường của các nguồn lợi được hưởng dưới dạng tiêu dùng và những thay đổi giá trị về quyền sở hữu tài sản trong một thời gian nhất định. - Về thuế: Trong các luật thuế hiện nay ở các nước, thu nhập được hiểu là các khoản thu bằng tiền và hiện vật do hoạt động sản xuất kinh doanh; do lao động dịch vụ làm ra cho bản thân và xã hội hoặc từ một quan hệ xã hội nào đó mà có được.
Nó mang tính ước lệ là chính, thuộc phạm vi qui định trong pháp luật thuế của từng nước. Thông thường, thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh được qui ước là có sự loại trừ các khoản chi phí cần thiết mang tính bù đắp chi phí bỏ ra và chi trả lao động làm thuê để xác định thu nhập chịu thuế - thu nhập ròng. Đối với các loại thu nhập khác, thường là 12 không được trừ khoản chi phí nào hoặc chỉ được trừ một số khoản theo qui định, ví dụ: chi phí bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, chi phí mang tính xã hội nuôi dưỡng con cái, bố mẹ. Ngoài ra, dựa vào các tiêu thức khác nhau, thu nhập có thể phân loại theo các mặt chủ yếu sau đây: - Căn cứ vào thời gian phát sinh: chia ra thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên.
- Căn cứ vào nguồn phát sinh: có thu nhập từ lao động như: tiền lương, tiền công, tiền thưởng., thu nhập từ kinh doanh như: sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ; thu nhập từ tài sản như: cho vay, trái phiếu, chứng khoán.; thu nhập từ nguồn khác như: quà biếu, thừa kế. - Căn cứ vào chủ thể được hưởng: có thu nhập của cá nhân, của công ty, của tập thể, của Nhà nước. Theo phân loại, thu nhập dựa vào các chủ thể qua khái niệm chung về thu nhập như trình bày trên đây, thì Thu nhập cá nhân là tổng các giá trị thu nhập mà một cá nhân nhận được trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Khái niệm và đặc điểm của thuế Thu nhập cá nhân [2 ] * Khái niệm thuế Thu nhập cá nhân Thuế Thu nhập cá nhân là một chính sách trong hệ thống thuế, thuế Thu nhập cá nhân mang đầy đủ tính chất cơ bản của thuế nói chung, đó là tính cưỡng chế, tính không hoàn trả trực tiếp cho người nộp.
Thuế Thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập của cá nhân trong một khoản thời gian nhất định. Đây là loại thuế được áp dụng rất lâu và phổ biến ở nhiều quốc 13 gia trên thế giới nhằm mục tiêu tập trung huy động nguồn thu cho Ngân sách nhà nước và thực hiện điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. * Đặc điểm thuế Thu nhập cá nhân Thuế Thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu nên luôn tạo cảm giác nặng về thuế đối với người chịu thuế. Người chịu thuế khó có thể chuyển gánh nặng về thuế cho người khác.
Đây là loại thuế liên quan trực tiếp đến lợi ích của người chịu thuế, do đó rất nhạy cảm và dễ bị phản ứng. Thuế Thu nhập cá nhân có phạm vi thu rất rộng. Các cá nhân không phân biệt nguồn thu nhập thường xuyên hay không thường xuyên, hầu hết các khoản thu nhập cá nhân đều chịu thuế, không kể nguồn phát sinh trong nước hay ngoài nước. Do vậy khả năng tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước rất cao.
Thuế Thu nhập cá nhân thường được đánh theo kiểu luỹ tiến từng phần. Đặc trưng này xuất phát chủ yếu từ vai trò của thuế Thu nhập cá nhân là điều tiết mạnh những người có thu nhập cao và động viên người có thu nhập trung bình góp phần thực hiện công bằng xã hội. Nên việc sử dụng biểu thuế từng phần sẽ thích ứng với nhu cầu đó. Khác hẳn với các loại thuế khác, thuế Thu nhập cá nhân là loại thuế chú trọng đến gia cảnh của người chịu thuế, điều này thông qua các quy định giảm trừ cho cá nhân người chịu thuế và những người phụ thuộc.
Các quy định giảm trừ góp phần làm cho chính sách thuế Thu nhập cá nhân thực hiện được nguyên tắc công bằng theo chiều dọc trong điều tiết thu nhập của người dân. Mặt khác còn tạo nên sự đồng thuận của xã hội nói chung khi áp dụng luật thuế. 14 Đối tượng chịu thuế, thu nhập chịu thuế của thuế Thu nhập cá nhân rất đa dạng và phức tạp. Ngoài ra, do phải thực hiện mục tiêu điều tiết công bằng thu nhập nên thuế Thu nhập cá nhân có biểu thuế khá phức tạp, khi tính thuế Thu nhập cá nhân cơ quan thuế phải xem xét từng hoàn cảnh của mỗi cá nhân và hoàn cảnh xã hội.
Công tác quản lý thu thuế Thu nhập cá nhân khó khăn, vì đòi hỏi nhiều về tính trung thực của người chịu thuế, dẫn đến chi phí hành thu của thuế Thu nhập cá nhân cao. Để giảm bớt phần nào chi phí, cơ quan thuế thường áp dụng biện pháp khấu trừ thuế tại nguồn chi trả. Vai trò của thuế Thu nhập cá nhân [2] 1.Thuế Thu nhập cá nhân là công cụ điều tiết thu nhập các tầng lớp dân cƣ, thực hiện công bằng xã hội, quản lý vĩ mô nền kinh tế Sự phát triển của nền kinh tế thị trường dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Người giàu dễ dàng đạt mức thoả dụng trong chi tiêu hơn người nghèo do chênh lệch về thu nhập.
Để đạt đến mục tiêu công bằng xã hội, Nhà nước phải can thiệp bằng việc đánh thuế thu nhập vào những người có thu nhập cao, qua đó điều tiết thu nhập của người có thu nhập cao, tái phân phối lại cho những người có thu nhập thấp thông qua các chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, thực hiện công bằng xã hội. Ngoài ra, thuế Thu nhập cá nhân còn thực hiện công bằng xã hội theo chiều dọc - các bậc thu nhập khác nhau thì chịu mức thuế suất khác nhau, và theo chiều ngang - thu nhập như nhau thì chịu cùng một mức thuế suất. Nhà nước quản lý nền kinh tế - xã hội gián tiếp thông qua việc đánh thuế. Việc đánh thuế Nhà nước nhằm hạn chế hoặc khuyến khích tiêu dùng cá nhân, nhất là hạn chế các mặt hàng xa xỉ mà nhà nước không khuyến khích hoặc khuyến khích một ngành hàng nào đó phát triển bằng cách giảm thuế.
Thuế Thu nhập cá nhân là thuế trực thu nên khắc phục tính luỹ thoái của thuế gián thu Nhược điểm của thuế gián thu là tính luỹ thoái. Thuế suất thuế gián thu không tính đến thu nhập của người tiêu dùng; khi tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ, mọi người đều phải chịu thuế suất như nhau, nhưng thu nhập cá nhân từng người là khác nhau. Mức chênh lệch về thu nhập càng lớn thì tính luỹ thoái của thuế gián thu càng cao, do Người có thu nhập càng cao khi tiêu dùng hàng hoá dịch vụ, mức thuế họ gánh chịu sẽ thấp hơn người có thu nhập thấp, thậm chí không đáng kể do tiền nộp thuế quá ít so với thu nhập kiếm được.