Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng thông qua các hiệp định thương mại song phương và đa phương đã tạo điều kiện thúc đẩy dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam dưới nhiều hình thức. Đi cùng với làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là sự hiện diện ngày càng gia tăng của các nhà thầu nước ngoài (NTNN) và nhà thầu phụ nước ngoài (NTPNN) trong các lĩnh vực xây lắp, cung cấp máy móc thiết bị, chuyển giao công nghệ, tài chính và dịch vụ tư vấn. Theo thống kê của Bộ Tài chính tại hội nghị tổng kết công tác tài chính - ngân sách nhà nước năm 2015, tính đến ngày 28/12/2015, tổng thu cân đối ngân sách nhà nước đạt gần 957 nghìn tỷ đồng, đạt 105% dự toán và 103,1% số ước thu báo cáo Quốc hội, trong đó nguồn thu từ các nhà thầu nước ngoài đóng góp một phần đáng kể.
Tuy nhiên, hoạt động của các nhà thầu nước ngoài mang tính chất đặc thù, không thành lập pháp nhân độc lập theo Luật Đầu tư của nước sở tại và thường thực hiện theo các hợp đồng ngắn hạn hoặc hợp đồng trọn gói phức tạp. Thực tế công tác hành thu cho thấy nhiều doanh nghiệp trong nước khi phát sinh quan hệ giao dịch thương mại, dịch vụ với đối tác nước ngoài vẫn chưa nắm vững hoặc chưa hiểu rõ các nghĩa vụ thuế liên quan, dẫn đến nguy cơ sai sót trong kê khai, khấu trừ và nộp thuế thay. Đồng thời, ngành thuế Việt Nam đang triển khai Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011–2020, đòi hỏi khuôn khổ pháp lý về thuế nhà thầu phải liên tục được rà soát, hoàn thiện nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách, chống thất thu thuế, đồng thời duy trì môi trường đầu tư hấp dẫn và bình đẳng.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là làm rõ những lý luận cơ bản về thuế nhà thầu nước ngoài, phân tích thực trạng áp dụng chính sách này tại Việt Nam qua hệ thống văn bản pháp quy và số liệu thực tiễn, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách thuế nhà thầu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Khóa luận xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ những lý luận cơ bản về thuế nhà thầu nước ngoài.
- Hệ thống hóa các văn bản pháp luật Việt Nam quy định về thuế nhà thầu nước ngoài.
- Tìm hiểu cơ chế quản lý thuế nhà thầu tại một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới (Nhật Bản, Singapore, Úc), rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách thuế nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách thuế đối với nhà thầu nước ngoài.
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn liên quan đến chính sách thuế áp dụng đối với nhà thầu và nhà thầu phụ nước ngoài tại Việt Nam và một số quốc gia.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Nghiên cứu thực trạng trên phạm vi cả nước Việt Nam, kết hợp khảo sát kinh nghiệm quản lý thuế tại Nhật Bản, Singapore và Úc.
- Thời gian: Tập trung vào hệ thống văn bản pháp quy thuế đối với NTNN tại Việt Nam và các số liệu thực tiễn được công bố chính thức đến năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên nền tảng lý thuyết về quyền đánh thuế theo nguyên tắc lãnh thổ của quốc gia có chủ quyền và các chuẩn mực thuế quốc tế. Thuế nhà thầu nước ngoài (được biết đến trên thế giới với tên gọi Foreign Contractor Tax - FCT hoặc Foreign Contractor Withholding Tax - FCWT) là cơ chế thu thuế khấu trừ tại nguồn đối với thu nhập phát sinh tại nước sở tại của các tổ chức, cá nhân không có tư cách pháp nhân độc lập tại nước đó. Bản chất của thuế nhà thầu không phải là một sắc thuế độc lập mà là cơ chế thu tổng hợp bao gồm thuế trực thu (Thuế Thu nhập doanh nghiệp - TNDN, Thuế Thu nhập cá nhân - TNCN) và thuế gián thu (Thuế Giá trị gia tăng - GTGT).
Khung pháp lý và mô hình lý thuyết được tác giả sử dụng bao gồm:
- Mô hình Hiệp định tránh đánh thuế hai lần của Liên Hợp Quốc (UN Model) ưu tiên nguyên tắc đánh thuế tại nguồn dành cho các nước đang phát triển, kết hợp với các định nghĩa về Cơ sở thường trú (Permanent Establishment - PE) và điều khoản tránh đánh thuế hai lần (Double Tax Agreement - DTA).
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ: Quyết định số 87/2004/QĐ-TTg, Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13, Nghị định số 83/2013/NĐ-CP, Thông tư số 156/2013/TT-BTC, Thông tư số 78/2014/TT-BTC, Thông tư số 205/2013/TT-BTC hướng dẫn DTA và trọng tâm là Thông tư số 103/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính thay thế Thông tư số 60/2012/TT-BTC.
Tác giả vận dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu học thuật:
- Phương pháp phân tích và đánh giá: Mổ xẻ các điều khoản pháp lý và cơ chế hạch toán, khấu trừ thuế.
- Phương pháp so sánh, luận giải và đối chiếu: Đối chiếu quy định giữa các thời kỳ văn bản tại Việt Nam (Thông tư 60/2012/TT-BTC và Thông tư 103/2014/TT-BTC), cũng như so sánh chính sách thuế NTNN của Việt Nam với các nước (Nhật Bản, Singapore, Úc).
- Phương pháp thống kê, tổng hợp dữ liệu: Thu thập số liệu công bố chính thức từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thu nội địa Singapore (IRAS), Sở Thuế vụ Úc (ATO) và Tổng cục Thuế Nhật Bản.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về thuế nhà thầu nước ngoài
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về thuế NTNN, phân tích sự hình thành khách quan, vai trò kinh tế và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế:
- Khái niệm và đặc điểm: Thuế NTNN là khoản thuế thu trên các dòng tiền chi trả thu nhập phát sinh từ nước sở tại cho các đối tượng không cư trú hoặc không có tư cách pháp nhân tại nước đó. Đặc điểm chính gồm: phạm vi áp dụng rộng (xây dựng, cho thuê máy móc thiết bị, chuyển giao công nghệ, bản quyền, lãi vay, dịch vụ tư vấn qua internet); thời gian thực hiện hợp đồng thường ngắn hạn; áp dụng phương thức khấu trừ tại nguồn tại đơn vị chi trả thu nhập ở nước sở tại; thuế suất được ấn định theo nhóm ngành nghề tương đồng; chịu sự điều chỉnh của các hiệp định DTA nếu nhà thầu thuộc diện hình thành cơ sở thường trú.
- Vai trò kinh tế: Đảm bảo nguồn thu ngân sách quan trọng đối với các nước đang phát triển khi có nhu cầu lớn về vốn vay, công nghệ và dịch vụ kỹ thuật từ bên ngoài; thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; đóng vai trò điều tiết và định hướng phát triển các ngành kinh tế trọng điểm.
- Kinh nghiệm quốc tế:
- Nhật Bản: Áp dụng song song thuế TNDN (Corporation tax, mức cao nhất khoảng 45%) đối với thu nhập gắn liền với cơ sở thường trú và thuế khấu trừ tại nguồn (Withholding tax) với mức thuế suất cố định 20% trên tổng thu nhập chịu thuế. Tổng số thu thuế khấu trừ tại nguồn của Nhật Bản giai đoạn 2009–2013 tăng từ 12.403,2 tỷ Yên (2009) lên 14.626 tỷ Yên (2013).
- Singapore: Mức thuế suất áp dụng phân hóa theo loại thu nhập: lãi vay và tiền thuê thiết bị (15%), bản quyền (10%), công nghệ và thông tin (10%–18%), phí quản lý và dịch vụ kỹ thuật áp dụng theo mức thuế TNDN (18% đối với tổ chức, 20% đối với cá nhân không thường trú). Năm tài chính 2014/2015, tổng thu thuế của IRAS đạt 43,4 tỷ USD (tăng 4,4% so với năm trước), trong đó thuế NTNN chiếm tỷ trọng 2%. Cơ quan thuế Singapore tập trung vào chiến lược tối đa hóa sự tuân thủ tự nguyện và hiện đại hóa CNTT.
- Úc: Thuế nhà thầu đánh trên hợp đồng công việc (xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng) và các hoạt động liên quan với mức giữ lại cơ bản là 5%. Thuế suất lãi vay là 10% (từ 01/07/2006 miễn thuế đối với lãi chi trả từ đối tượng cư trú cho không cư trú); cổ tức áp dụng mức 30% (giảm còn 15% theo DTA); bản quyền chịu mức 30% (giảm xuống 10% hoặc 5% theo DTA). Cơ quan thuế ATO phân loại quản lý theo mức độ tuân thủ rủi ro, đẩy mạnh phát triển đại lý thuế và có cơ chế hoàn thuế chiếm tới 83% người nộp thuế.
- Bài học cho Việt Nam: Khẳng định tính tất yếu của cơ chế tự khai tự nộp kết hợp quản lý rủi ro; hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý rõ ràng, dễ hiểu; nâng cao năng lực cán bộ hành thu và hiện đại hóa dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế.
Chương 2: Thực trạng về thuế nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam
Chương 2 phân tích quá trình hình thành chính sách, khung pháp lý hiện hành và dữ liệu thực tế thực hiện thu thuế NTNN tại Việt Nam:
- Quá trình hình thành chính sách: Bắt đầu từ Thông tư 03-TC/GTBD (1991) về thuế cước tàu biển, Thông tư 30-TC/TCT (1992), Thông tư 37/TC/TCT (1995), Thông tư 169/1998/TT-BTC, Thông tư 05/2005/TT-BTC, Thông tư 134/2008/TT-BTC, Thông tư 60/2012/TT-BTC và hiện tại là Thông tư 103/2014/TT-BTC. Xu hướng chung là đối tượng áp dụng ngày càng mở rộng và mức thuế suất được chi tiết hóa theo từng nhóm dịch vụ, sản xuất từ 0,1% đến 20%.
- Khung pháp lý theo Thông tư 103/2014/TT-BTC:
- Mở rộng phạm vi đối tượng chịu thuế đối với việc cung cấp hàng hóa theo tất cả các điều kiện Incoterms mà người bán chịu rủi ro vào trong lãnh thổ Việt Nam, các trường hợp phân phối hàng hóa kèm cung cấp dịch vụ tại Việt Nam mà bên nước ngoài vẫn giữ quyền sở hữu hoặc ấn định giá.
- Quy định rõ các trường hợp loại trừ không thuộc diện chịu thuế NTNN: giao hàng tại cửa khẩu nước ngoài hoặc cửa khẩu Việt Nam không kèm dịch vụ nội địa (kể cả có điều khoản bảo hành); dịch vụ thực hiện hoàn toàn tại nước ngoài (sửa chữa phương tiện vận tải, máy móc thiết bị, quảng cáo tiếp thị không qua internet); sử dụng kho ngoại quan, ICD để lưu trữ, quá cảnh.
- Quy định về DTA: Việt Nam đã ký kết DTA với 73 quốc gia và vùng lãnh thổ (tính đến 01/08/2015). Thông tư 205/2013/TT-BTC bổ sung chế tài chống lạm dụng DTA (từ chối áp dụng nếu nghĩa vụ thuế phát sinh quá 3 năm, hoặc người đề nghị không phải chủ sở hữu thực sự của thu nhập).
| Tiêu chí |
Phương pháp kê khai |
Phương pháp trực tiếp |
Phương pháp hỗn hợp |
| Điều kiện áp dụng |
Có cơ sở thường trú/cư trú tại VN; thời hạn HĐ $\ge$ 183 ngày; áp dụng chế độ kế toán VN. |
Không đáp ứng đủ các điều kiện của phương pháp kê khai. |
Có cơ sở thường trú/cư trú tại VN; thời hạn HĐ $\ge$ 183 ngày; thực hiện chế độ kế toán VN. |
| Tính thuế GTGT |
Phương pháp khấu trừ (Thuế đầu ra - Thuế đầu vào). |
Tỷ lệ % ấn định nhân $(\times)$ Doanh thu tính thuế GTGT. |
Phương pháp khấu trừ (Thuế đầu ra - Thuế đầu vào). |
| Tính thuế TNDN |
Kê khai doanh thu, chi phí để xác định thu nhập chịu thuế. |
Tỷ lệ % ấn định nhân $(\times)$ Doanh thu tính thuế TNDN. |
Tỷ lệ % ấn định nhân $(\times)$ Doanh thu tính thuế TNDN. |
| Trách nhiệm nộp |
Nhà thầu nước ngoài trực tiếp kê khai, nộp thuế. |
Bên Việt Nam khấu trừ và nộp thay. |
Nhà thầu nước ngoài trực tiếp kê khai, nộp thuế. |
| Ngành kinh doanh |
Tỷ lệ % tính thuế GTGT |
Tỷ lệ % tính thuế TNDN |
| Thương mại, phân phối hàng hóa, máy móc thiết bị gắn dịch vụ tại VN |
Theo Luật Thuế GTGT khâu NK |
1% |
| Dịch vụ, cho thuê máy móc thiết bị, bảo hiểm, thuê giàn khoan |
5% |
5% |
| Dịch vụ quản lý nhà hàng, khách sạn, casino |
5% |
10% |
| Dịch vụ tài chính phái sinh |
Không chịu thuế GTGT |
2% |
| Cho thuê tàu bay, động cơ tàu bay, phụ tùng tàu bay, tàu biển |
Không chịu thuế GTGT |
2% |
| Xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu, thiết bị |
5% |
2% |
| Xây dựng, lắp đặt có bao thầu nguyên vật liệu, thiết bị |
3% |
2% |
| Vận tải, sản xuất kinh doanh khác |
2% - 3% |
2% |
| Chuyển nhượng chứng khoán, tái bảo hiểm ra nước ngoài |
Không chịu thuế GTGT |
0,1% |
| Lãi tiền vay |
Không chịu thuế GTGT |
5% |
| Thu nhập bản quyền |
Không chịu thuế GTGT |
10% |
- Thực trạng số liệu thu thuế NTNN tại Việt Nam:
- Vốn FDI thực hiện và đăng ký duy trì mức cao (đỉnh điểm năm 2008 vốn đăng ký đạt gần 70 tỷ USD). Trong 9 tháng đầu năm 2015, thu thuế từ khu vực doanh nghiệp FDI chiếm 28% tổng thu ngân sách, vượt khu vực DNNN (21%) và khu vực ngoài quốc doanh (13%).
- Về mặt địa lý, dòng vốn FDI và số thu thuế NTNN năm 2015 tập trung cao tại Bắc Ninh (3,46 tỷ USD), TP. Hồ Chí Minh (3,32 tỷ USD), Bình Dương (2,95 tỷ USD), Trà Vinh (2,52 tỷ USD), Đồng Nai (1,94 tỷ USD). Năm 2014, riêng 3 địa phương gồm TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và Bà Rịa – Vũng Tàu đã chiếm hơn 75% tổng số thu thuế NTNN toàn quốc.
- Điển hình tại Bắc Ninh năm 2015, các dự án của Tập đoàn Samsung nộp 1.684 tỷ đồng thuế, trong đó thuế NTNN nộp thay đạt 982 tỷ đồng (chiếm hơn 58%). Tại Thái Nguyên năm 2015, thu thuế từ doanh nghiệp FDI đạt 1.356 tỷ đồng (bằng 625% dự toán), trong đó Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên nộp thay thuế NTNN ước đạt 950 tỷ đồng và Samsung Electro-Mechanics nộp thay 50 tỷ đồng.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách thuế nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam
Chương 3 đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp bám sát Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2020:
- Định hướng cải cách: Đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế, đảm bảo quyền thu thuế bình đẳng của quốc gia theo nguyên tắc nguồn phát sinh thu nhập, ngăn ngừa các hành vi chuyển giá, trốn thuế quốc tế nhưng không tạo ra rào cản hành chính gây suy giảm dòng vốn FDI.
- Hệ thống giải pháp đề xuất:
- Nhóm giải pháp chung: Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy theo hướng minh bạch, đồng bộ; mở rộng diện điều chỉnh thuế đối với các mô hình kinh doanh mới; xây dựng cơ chế quản lý rủi ro và phân loại đối tượng nộp thuế tương tự mô hình của Úc; thu hẹp các quy định miễn giảm thuế thiếu chặt chẽ.
- Nhóm giải pháp cụ thể: Chuẩn hóa công thức và phương pháp xác định doanh thu tính thuế GTGT và TNDN trong trường hợp hợp đồng trọn gói (EPC); rà soát, điều chỉnh tỷ lệ % ấn định tính thuế TNDN và GTGT cho từng ngành nghề phù hợp với biên lợi nhuận thực tế; quy định cụ thể chế tài và phương thức tính thuế đối với chuyển nhượng dự án, chuyển nhượng quyền tham gia hợp đồng kinh tế và tài sản vô hình.
- Nhóm giải pháp hỗ trợ: Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong kê khai, nộp thuế điện tử và kết nối liên thông dữ liệu giữa cơ quan Thuế, Hải quan, Kho bạc và Ngân hàng thương mại; tăng cường đào tạo chuyên sâu về luật thuế quốc tế, hiệp định DTA cho đội ngũ cán bộ thanh tra; học tập mô hình tuyên truyền, hỗ trợ tuân thủ tự nguyện của IRAS (Singapore); tăng cường hợp tác thanh tra thuế quốc tế nhằm kiểm soát xói mòn cơ sở tính thuế trong khối ASEAN.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu chính:
- Hệ thống hóa toàn bộ tiến trình phát triển của chính sách thuế nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam từ văn bản đầu tiên năm 1991 đến Thông tư số 103/2014/TT-BTC.
- Phân tích chi tiết sự khác biệt về mặt kỹ thuật giữa Thông tư 103/2014/TT-BTC và Thông tư 60/2012/TT-BTC, chỉ ra tính linh hoạt cho doanh nghiệp khi cho phép tách riêng giá trị máy móc thiết bị và dịch vụ trong các hợp đồng xây dựng có bao thầu.
- Lượng hóa quy mô đóng góp của thuế NTNN thông qua các số liệu thống kê thực tế: khu vực FDI đóng góp 28% tổng thu ngân sách 9 tháng đầu năm 2015; ba địa phương trọng điểm (TP.HCM, Hà Nội, Bà Rịa – Vũng Tàu) chiếm trên 75% số thu thuế NTNN năm 2014; dữ liệu nộp thuế NTNN của tổ hợp Samsung tại Bắc Ninh (982 tỷ đồng) và Thái Nguyên (1.000 tỷ đồng) năm 2015.
- Đóng góp của khóa luận: Cung cấp góc nhìn so sánh đa chiều giữa Việt Nam và 3 quốc gia (Nhật Bản, Singapore, Úc), làm rõ những khoảng trống trong công tác quản lý thuế NTNN tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp 3 nhóm (chung, cụ thể, hỗ trợ) mang tính khả thi, phù hợp với lộ trình cải cách thuế giai đoạn 2011–2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nguồn dữ liệu thống kê chi tiết về số thu thuế NTNN tách biệt tại nhiều địa phương còn hạn chế do thuế NTNN không hạch toán thành một mục lục ngân sách độc lập mà nằm rải rác trong thuế TNDN, thuế GTGT và thuế TNCN. Tại thời điểm nghiên cứu (2015–2016), Hiệp định DTA giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chưa có hiệu lực thi hành nên chưa thể đánh giá tác động thực tế từ dòng vốn của các nhà thầu Mỹ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế quản lý thuế đối với các hoạt động kinh doanh thương mại điện tử xuyên biên giới, dịch vụ kỹ thuật số và các mô hình kinh tế số của các nhà thầu không có hiện diện vật chất tại Việt Nam; đánh giá tác động của các cam kết thương mại tự do thế hệ mới (như TPP/CPTPP, EVFTA) đến chính sách thuế khấu trừ tại nguồn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Tài chính quốc tế, Luật Kinh tế và Kế toán – Kiểm toán khi tìm hiểu về cơ chế thuế khấu trừ tại nguồn, hiệp định tránh đánh thuế hai lần và nghĩa vụ tài chính của nhà đầu tư nước ngoài.
- Kế toán viên, chuyên viên tư vấn thuế và nhà quản trị tại các doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động nhập khẩu máy móc, thuê thầu xây dựng quốc tế, vay vốn nước ngoài hoặc ký kết hợp đồng dịch vụ kỹ thuật với đối tác phi cư trú.
- Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng biểu phân loại đối tượng chịu thuế, phương pháp tính thuế theo Thông tư 103/2014/TT-BTC và các bài học kinh nghiệm về mô hình quản lý rủi ro tuân thủ của Singapore và Úc.
Câu hỏi thường gặp
1. Điều kiện để Nhà thầu nước ngoài được áp dụng phương pháp kê khai nộp thuế tại Việt Nam là gì?
Theo quy định tại Thông tư 103/2014/TT-BTC, nhà thầu nước ngoài phải đáp ứng đồng thời 3 điều kiện: (1) Có cơ sở thường trú tại Việt Nam hoặc là đối tượng cư trú tại Việt Nam; (2) Thời hạn kinh doanh tại Việt Nam theo hợp đồng nhà thầu từ 183 ngày trở lên; (3) Áp dụng chế độ kế toán Việt Nam, thực hiện đăng ký thuế và được cấp mã số thuế.
2. Điểm mới quan trọng của Thông tư 103/2014/TT-BTC so với Thông tư 60/2012/TT-BTC đối với hợp đồng xây dựng có bao thầu máy móc thiết bị là gì?
Thông tư 60/2012/TT-BTC ấn định toàn bộ giá trị hợp đồng xây dựng có bao thầu phải chịu thuế NTNN với tỷ lệ GTGT 3% và TNDN 2% bất kể có tách được giá trị hay không. Thông tư 103/2014/TT-BTC cho phép nhà thầu tách riêng giá trị máy móc thiết bị (chỉ chịu thuế TNDN 1%, thuế GTGT nộp ở khâu nhập khẩu) và giá trị dịch vụ/xây lắp, giúp nhà thầu tối ưu hóa chi phí thuế hợp pháp.
3. Số liệu thực tế trong khóa luận phản ánh mức độ đóng góp của thuế NTNN tại các doanh nghiệp FDI lớn như Samsung ra sao?
Năm 2015, tại Bắc Ninh, các dự án Samsung nộp 1.684 tỷ đồng tiền thuế vào ngân sách, trong đó thuế NTNN nộp thay đạt 982 tỷ đồng (hơn 58%). Tại Thái Nguyên, số thuế nộp thay NTNN từ Công ty Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên đạt khoảng 950 tỷ đồng và Samsung Electro-Mechanics đạt 50 tỷ đồng, đóng góp quyết định vào kết quả thu ngân sách vượt dự toán của tỉnh.
4. Khóa luận rút ra bài học gì từ mô hình quản lý thuế của Singapore (IRAS) và Úc (ATO)?
Bài học cốt lõi là chuyển dịch phương thức quản lý sang cơ chế "tự khai, tự nộp" dựa trên phân loại cấp độ rủi ro tuân thủ của người nộp thuế, đẩy mạnh ứng dụng CNTT, tối đa hóa dịch vụ hỗ trợ nhằm khuyến khích tính tuân thủ tự nguyện và phát triển mạng lưới đại lý thuế chuyên nghiệp.
5. Theo Thông tư 205/2013/TT-BTC, những trường hợp nào bị từ chối áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (DTA)?
Cơ quan thuế Việt Nam sẽ từ chối áp dụng DTA nếu: số thuế phát sinh quá 3 năm trước thời điểm đề nghị; mục đích chính của hợp đồng/thỏa thuận là nhằm trốn hoặc giảm thuế; hoặc người đề nghị không phải là chủ sở hữu thực sự của khoản thu nhập (ví dụ: công ty trung gian, đại lý, hoặc có nghĩa vụ chuyển giao trên 50% thu nhập cho bên thứ ba trong vòng 12 tháng).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Ngọc Sơn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, khung pháp lý và thực tiễn thực thi chính sách thuế nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Bằng việc kết hợp phân tích các quy định tại Thông tư số 103/2014/TT-BTC với số liệu thực tế từ các trung tâm thu hút FDI và kinh nghiệm quản lý của Nhật Bản, Singapore, Úc, công trình đã chỉ rõ những điểm tiến bộ cũng như các bất cập còn tồn tại trong cơ chế hành thu. Các giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ từ hoàn thiện quy định pháp lý, điều chỉnh tỷ lệ tính thuế đến nâng cao năng lực quản lý rủi ro, đóng góp thiết thực cho mục tiêu cải cách hệ thống thuế của Việt Nam đến năm 2020.