CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm – Đặc điểm của thuế nhà thầu nước ngoài 1. Khái niệm thuế nhà thầu nước ngoài Hiện nay chưa có một khái niệm chính thức về thuế nhà thầu trong các văn bản hệ thống thuế của các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, dựa vào các văn bản quy định liên quan của một số quốc gia, tác giả trích dẫn một số định nghĩa có đề cập đến thuế nhà thầu nước ngoài (thuế NTNN) như sau: Thuế NTNN theo tên gọi ở các nước trên thế giới là Foreign Contractor Tax (FCT), Foreign Contracter Witholding Tax (FCWT).
Theo luật quản lý thuế của Australia năm 2012 (Taxation Administration Amendment Regulations 2012), thuế NTNN được định nghĩa là loại thuế đánh trên thu nhập (lãi vay, cổ tức, tiền bản quyền và các khoản thanh toán thuế) được quy định tại nguồn của người cư trú ngoài nước đó. Trong văn bản hướng dẫn thuế Malaysia (Malaysia Tax and Business Booklet, 2013, trang 24) đưa ra khái niệm như sau: thuế NTNN là khoản tiền được bên chi trả khấu trừ lại đối với thu nhập của người được trả tiền không cư trú và nộp cho Cục thu nội địa Malaysia, bên trả tiền là cá nhân, tổ chức hoạt động kinh doanh tại Malaysia, bên nhận tiền là cá nhân, tổ chức không cư trú tại Malaysia. Trong Hướng dẫn thuế khấu trừ Singapore 2012 (Singapore Withholding Tax Guide, 2012) thì thuế nhà thầu hay thuế khấu trừ được áp dụng đối với các khoản thanh toán cho nhà thầu nước ngoài cho các dịch vụ được cung cấp hoặc công việc được thực hiện tại Singapore. Khi một công ty Singapore trả tiền thì một tỷ lệ phần trăm của thanh toán đó phải được giữ lại và nộp cho Cơ quan thuế nội địa (The Inland Revenue Authority of Singapore – IRAS).
Theo tổ chức Vụ thu thuế IRS của Hoa Kỳ, thuế nhà thầu là số tiền thuế mà một quốc gia tác động vào khoản thu nhập chi trả cho phía bên ngoài và đó là khoản mà một doanh nghiệp sẽ giữ lại khi có phát sinh việc thanh toán tiền cho một bên khác, và số tiền giữ lại này sẽ được nộp cho cơ quan thuế thông qua hoạt động mà nhà thầu chính 10 hoặc nhà thầu phụ thực hiện kinh doanh. Khái niệm mà IRS đưa ra cũng là khái niệm được chấp nhận và phổ biến nhất hiện nay. Tại Việt Nam chưa có văn bản pháp luật nào nêu rõ khái niệm về thuế NTNN mà chỉ có một số văn bản đưa ra khái niệm về NTNN. Theo Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 của Bộ Tài Chính: “Tổ chức nước ngoài kinh doanh có cơ sở thường trú tại Việt Nam hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài kinh doanh là đối tượng cư trú tại Việt Nam hoặc không là đối tượng cư trú tại Việt Nam (sau đây gọi chung là Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài)” Theo Quyết định số 87/2004/QĐ-TTG ngày 19/05/2004: của Thủ Tướng Chính Phủ: "Nhà thầu nước ngoài" là tổ chức, cá nhân nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự; đối với cá nhân còn phải có năng lực hành vi dân sự để ký kết và thực hiện hợp đồng.
Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của nhà thầu nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà nhà thầu có quốc tịch. Nhà thầu nước ngoài có thể là nhà thầu chính, tổng thầu, nhà thầu liên danh, nhà thầu phụ. Như vậy, từ một số định nghĩa trên, tác giả tổng hợp một số nội dung chính của thuế NTNN, bao gồm: - Là một khoản được giữ lại và được tính toán thông qua các hình thức thuế khác được quy định trong luật thuế tương ứng của quốc gia đó. - Được tính trên số tiền trả cho phía nước ngoài hoặc khoản thu nhập và tổ chức, cá nhân đó nhận được khi hoạt động kinh doanh.
- Nộp trực tiếp hoặc tạm thu trước cho cơ quan thuế có thẩm quyền. Đặc điểm của thuế nhà thầu nước ngoài Các công ty hiện nay đang mở rộng phạm vi hoạt động của mình không chỉ ở trong nước mà còn ở các thị trường quốc tế rộng lớn khác. Nhiều công ty trong số đó có được nguồn lợi nhuận khổng lồ thu được từ hoạt động kinh doanh ở nước ngoài. Do đó, thuế nhà thầu được xây dựng nhằm mục đích tạo nguồn thu thuế cho chính phủ đánh trên các khoản thu nhập từ hoạt động kinh doanh của NTNN phát sinh tại quốc gia ấy.
Bên cạnh đó, thuế NTNN còn khắc phục được tình trạng trốn thuế của các tổ chức, cá nhân kinh 11 doanh trong và ngoài nước, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, công bằng giữa các đối tượng khác nhau trong nền kinh tế. Với những quy định và mục đích của thuế NTNN kể trên, tác giả khái quát lên những đặc điểm chính của thuế NTNN như sau: Về lĩnh vực áp dụng: Một số loại hình kinh doanh thường áp dụng thuế nhà thầu như: - Đầu tư vào những dự án mới hoặc nhập khẩu máy móc, loại thiết bị mà trong nước chưa sản xuất, chế tạo được, kèm theo các dịch vụ hỗ trợ khác. - Cho thuê các loại máy móc, phương tiện, thiết bị công nghệ, phương tiện vận tải và các động sản khác dưới mọi hình thức, kể cả các phần mềm đi kèm. - Tư vấn, thiết kế (kể cả thiết kế qua Internet) - Chuyển giao công nghệ, mua bán bản quyền công nghệ từ nước ngoài, trả tiền bản quyền xuất bản phẩm.
- Vay ngân hàng nước ngoài (lãi tiền vay). - Quảng cáo (tiền bản quyền) hoặc dịch vụ. Về thời gian hoạt động của nhà thầu nước ngoài Một trong những đặc điểm quan trọng của NTNN là hoạt động kinh doanh chỉ trong một thời gian ngắn, theo các hợp đồng ký với các doanh nghiệp hay các cá nhân của nước sở tại. Các hợp đồng này thường là ngắn hạn, hầu hết không quá một năm, có những hợp đồng chỉ trong thời gian rất ngắn.
Một số trường hợp có những hợp đồng được thực hiện trong nhiều năm, đặc biệt là các hợp đồng trong lĩnh vực dầu khí: thuê giàn khoan, tàu chứa dầu v.v…; hay trong các lĩnh vực xây dựng nhà máy điện, xi măng, nhà máy chế biến thực phẩm; hoặc các hợp đồng vay vốn đầu tư dự án mua sắm máy móc thiết bị. Về cách thu Để đảm bảo việc thu thuế NTNN được thực hiện một cách hiệu quả, khắc phục một số vấn đề như thời gian thực hiện hợp đồng ngắn, nhà thầu có thể hoặc không cần hiện diện tại nước sở tại, việc thu thuế NTNN có điểm khác biệt với các hình thức thu thuế khác. Thuế NTNN được thu chủ yếu tại bên ký hợp đồng nước sở tại, đó cũng là đặc điểm dẫn tới tên khác của thuế NTNN là thuế khấu trừ tại nguồn, trong đó nguồn được hiểu là nguồn thu nhập, tức là thu tại đơn vị chi trả thu nhập. Điều này dẫn đến đơn giản 12 hóa thủ tục hành chính thuế hiệu quả, tiết kiệm chi phí thu thuế.
Tuy nhiên, cách thu thuế này cũng có nhược điểm là chuyển nghĩa vụ kê khai và nộp thuế của đối tượng nộp thuế – các NTNN – sang cho bên ký hợp đồng ở nước sở tại. Như vậy các chế tài về thuế như: phạt vi phạm kê khai, khai sai, khai thiếu, nộp chậm tờ khai v.v… cũng được chuyển sang cho bên ký hợp đồng ở nước sở tại. Về thuế suất Do đặc điểm, đa phần NTNN chỉ hoạt động trong thời gian ngắn và không thực hiện chế độ sổ sách kế toán như các doanh nghiệp trong nước nên việc kê khai, tính thuế không áp dụng như đối với các doanh nghiệp trong nước. Để tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình hành thu, thuế suất đối với các hoạt động kinh doanh của NTNN thường được gộp lại theo từng nhóm có hoạt động kinh doanh tương tự.
Cũng do không thực hiện chế độ sổ sách kế toán, việc xác định thuế TNDN thường theo tỷ lệ % trên doanh thu NTNN nhận được. Tỷ lệ này cũng được xác định theo từng nhóm hoạt động kinh doanh tương tự nhau, chẳng hạn: hoạt động dịch vụ, hoạt động xây dựng, hoạt động thương mại v.v… Quan hệ với Hiệp định tránh đánh thuế hai lần Thuế NTNN có quan hệ chặt chẽ với Hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Các quy định về thuế đối với NTNN đều đề cập đến quan hệ giữa thuế NTNN và Hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Quan hệ giữa thuế NTNN và Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thể hiện ở các điểm sau: - Về loại thuế áp dụng: Khác với thuế NTNN, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần chỉ áp dụng đối với thuế thu nhập.
Các loại thuế gián thu như thuế GTGT, TTĐB v.v… áp dụng theo nội luật. - Về nghĩa vụ nộp thuế: Trong các quy định về thuế NTNN đều khẳng định việc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đối với hoạt động của NTNN. Trường hợp NTNN hoạt động tại nước ký kết hợp đồng hình thành một Cơ sở thường trú theo định nghĩa tại từng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (Permanent Establishment – PE), các NTNN sẽ nộp thuế như các doanh nghiệp trong nước. 13 Ngược lại, các NTNN có thể chỉ phải nộp thuế tại nước đăng ký kinh doanh mà không phải tại nước ký hợp đồng.
- Về thứ tự áp dụng quy định Luật đối với NTNN: Sẽ áp dụng quy định tại Hiệp định nếu có sự khác nhau giữa các quy định tại Hiệp định và các quy định tại luật thuế trong nước. Ngoài các đặc điểm quan trọng trên, thuế NTNN còn có một số đặc điểm khác có thể thấy thông qua các quy định về thuế như: thuế nhà thầu vừa mang tính chất của một loại thuế trực thu và vừa mang tính chất của loại thuế gián thu (do nó bao gồm cả thuế TNDN, thuế TNCN và các loại thuế gián thu khác như thuế GTGT); và thuế NTNN không phải là một loại thuế độc lập, mà hầu hết các quốc gia đều quy định thuế nhà thầu dựa trên phương pháp tính thuế được quy định trong các văn bản luật thuế khác. Do đó, với các đặc điểm khái quát trên, có thể thấy thuế nhà thầu được xem là công cụ để Chính phủ điều chỉnh hành vi của các nhà đầu tư không có tư cách pháp nhân tại nước đó. Bên cạnh những thuận lợi trên thì loại thuế nhà thầu này vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định.