Chương 1: Tổng quan nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về tuân thủ thuế 2.1 Khái niệm về tuân thủ thuế và hành vi tuân thủ thuế 2.1 Khái niệm tuân thủ thuế Tuân thủ thuế là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ rất lâu. Quan điểm truyền thống cho rằng hầu hết người nộp thuế không tự nguyện tuân thủ thuế, họ chỉ chấp hành nghĩa vụ thuế khi có sự cưỡng chế của cơ quan thuế (CQT) hoặc khi bị tác động bởi lợi ích kinh tế (Damayanthi, 2015). Vì vậy, cách tiếp cận tuân thủ thuế theo luật thuế chỉ có thể làm giảm mức độ trốn thuế chứ không thể hướng đến việc tăng cường tuân thủ thuế.
Khái niệm tuân thủ thuế còn thu hút nhiều nhà nghiên cứu tham gia tranh luận về phương diện tuân thủ tự nguyện hay không tự nguyện. Một trong những mục tiêu được xem là cao nhất của quản lý thuế là tăng tính tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế, thay vì đưa ra những hình thức xử phạt các đối tượng trốn thuế và tránh thuế. Hầu hết quan điểm nghiên cứu hiện nay đều tập trung xem xét tính tự nguyện chấp hành thuế. Doreen và cộng sự (2017) đã đặt ra câu hỏi: sự “tuân thủ” có được là do hành vi tự nguyện hay bắt buộc? Nếu người nộp thuế “tuân thủ” chỉ vì sự đe dọa hoặc do các biện pháp cưỡng chế hành chính, hoặc do cả hai thì điều này không được cho là hoàn toàn tuân thủ, ngay cả khi khoản thu từ thuế đạt đến 100% so với mức thuế phải nộp theo luật định.
Vì vậy, quan điểm hiện đại cho rằng cơ quan quản lý thuế sẽ thành công khi gia tăng được sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế mà không cần sử dụng đến các hình thức kiểm tra, thanh tra, nhắc nhở hoặc các biện pháp xử lý hành chính khác.2 Hành vi tuân thủ thuế Đối với mọi quốc gia trên toàn thế giới thì thuế là nguồn thu chủ yếu của các quốc gia này, ngoài ra, thuế còn là khoản đóng góp mang tính bắt buộc mà các tổ chức cũng như cá nhân phải có nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện đối với ngân sách Nhà nước. Theo quan điểm truyền thống cho rằng: Hầu hết người nộp thuế không tự nguyện tuân thủ Pháp luật thuế, họ chỉ chấp hành nghĩa vụ thuế khi có sự cưỡng chế của Cơ quan thuế hoặc do lợi ích kinh tế. Từ đó, nhiều nhà nghiên cứu tranh luận về tuân thủ Pháp luật thuế tự nguyện hay không tự nguyện. Tuân thủ thuế là một vấn đề lớn đối với nhiều cơ quan thuế và việc thuyết phục người nộp thuế tuân thủ các yêu 8 cầu về thuế không phải là một nhiệm vụ dễ dàng mặc dù luật thuế không phải lúc nào cũng chính xác.
Do đó, tuân thủ thuế có nhiều định nghĩa khác nhau, tác giả sẽ sơ lược những khái niệm chính theo dòng thời gian như sau: Edward (2015)cho rằng tuân thủ thuế là báo cáo thu nhập thực tế và cũng cho rằng hành vi tuân thủ bị ảnh hưởng bởi sự thiếu hiểu biết trong tình huống người nộp thuế sẽ được hưởng khoản tiết kiệm thuế do thiếu thu nhập trong thời gian ngắn mà không xem xét đến việc gắn kết trả trong thời gian dài cho thu nhập chưa được khai báo ở mức phạt sẽ cao hơn số tiền họ đã trả nếu họ khai báo thu nhập đúng vào đúng thời điểm. Mới đây nhất, nhiều quốc gia và các nhà nghiên cứu trên thế giới đang coi khái niệm về tuân thủ thuế của OECD (2016) là tiêu chuẩn khi định nghĩa: “Tuân thủ thuế là mức độ mà người nộp thuế tuân thủ (hoặc không tuân thủ) các quy tắc thuế của quốc gia anh ta, ví dụ, bằng cách khai báo thu nhập, khai thuế và nộp thuế kịp thời cách thức” (OECD, 2016). Trong điều kiện tại Việt Nam, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13 tháng 6 năm 2019 quy định nghĩa vụ của doanh nghiệp nộp thuế (DNNT) gồm: “Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật. Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế.
Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm. Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế. Lập và giao hoá đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật.
Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế. Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật. Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người 9 đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt DNNT thực hiện thủ tục về thuế sai quy định”. Như vậy, tuân thủ thuế là thực hiện đầy đủ và kịp thời nghĩa vụ thuế theo đúng các quy định tại các luật thuế, DNNT tự giác và có ý thức tuân thủ hoàn thành tốt nghĩa vụ thuế của mình, Cơ quan thuế có nhiệm vụ chủ yếu tuyên truyền, giáo dục, theo dõi, giám sát, kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ thuế, ngăn chặn xử lý các hành vi không tuân thủ thuế.3 Phân loại tuân thủ thuế của doanh nghiệp 2.1 Dựa vào mức độ tuân thủ của doanh nghiệp Căn cứ vào mức độ tuân thủ thuế, ta có thể phân loại thành 2 dạng là: Tuân thủ tự nguyện và tuân thủ có kiểm soát.
Tuân thủ tự nguyện: Xu hướng hiện nay của Chính phủ các nước là tạo điều kiện hỗ trợ cho các doanh nghiệp thực hiện việc nộp thuế tự nguyện. Việc tuân thủ nộp thuế tự nguyện của các doanh nghiệp sẽ giúp cho cơ quan quản lý thuế giảm bớt được việc kiểm tra, thẩm tra, nhắc nhở cũng như hạn chế được các biện pháp hành chính. Tuy nhiên việc tuân thủ nộp thuế tự nguyện có thể gây ra các sai sót do doanh nghiệp có thể không hiểu rõ hết các quy định của chính sách dẫn tới kê khai và nộp thuế không đầy đủ (Nguyễn Thị Liên & Nguyễn Văn Hiệu, 2018). Tuân thủ có kiểm soát: Quan điểm truyền thống của quản lý thuế chủ yếu dựa trên giả thiết rằng hầu hết doanh nghiệp về bản chất là không tự nguyện tuân thủ và chỉ chấp hành nghĩa vụ khi có sự cưỡng chế của các cơ quan thuế hay khi bị tác động bởi lợi ích kinh tế.
Nếu có sự ràng buộc, nhắc nhở hay có chế độ kiểm soát thì doanh nghiệp mới chấp hành. Tuy nhiên, mức độ chấp hành là khác nhau, do đó các doanh nghiệp phải thực hiện theo đúng quy trình tuân thủ thuế do Phát luật về thuế doanh nghiệp quy định bao gồm năm giai đoạn chính là: Đăng ký thuế; kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế; Cung cấp thông tin báo cáo; cuối cùng là lưu trữ sổ sách.2 Dựa vào sự phân cấp của việc tuân thủ Dựa vào sự phân cấp của việc tuân thủ. Trong các điều kiện môi trường khác nhau rõ ràng sự tuân thủ của doanh nghiệp là khác nhau. Do đó nhằm tăng cường sự tuân thủ của các doanh nghiệp này thì Cơ quan thuế phải hiểu rõ được bản chất của sự tuân thủ thuế tại các doanh nghiệp đó.
Trong một nghiên cứu khác thì sự tuân thủ 10 thuế của doanh nghiệp được chia thành bốn cấp độ khác nhau dựa trên sự sẵn sàng và khả năng thực hiện đúng cam kết về thuế của doanh nghiệp. Đồng thời cũng chính là các cấp độ thể hiện mối quan hệ của doanh nghiệp đối với Cơ quan quản lý thuế tại địa phương. - Cấp độ Cam kết: doanh nghiệp cảm thấy thoải mái với hoạt động quản lý thuế, hợp tác với Cơ quan thuế theo kế hoạch quản lý thuế và tuân thủ một cách tích cực, tự nguyện. Thậm chí có thể thay mặt cơ quan thuế khuyến khích các đối tượng khác tuân thủ theo mình.
- Cấp độ Chấp nhận: doanh nghiệp cảm thấy hòa hợp và chấp nhận những yêu cầu được đưa ra từ Cơ quan quản lý việc thu thuế tại địa phương và tin tưởng vào các chính sách thuế. - Cấp độ Miễn cưỡng: Đây là cấp độ thể hiện sự phản kháng của doanh nghiệp, các doanh nghiệp tiếp cận hoạt động nộp thuế với thái độ chống đối, chấp nhận đối đầu và tranh chấp với Cơ quan thuế. - Cấp độ Từ chối: Đây là cấp cuối cùng cũng là thể hiện sự bất hợp tác cao nhất của các doanh nghiệp nhằm tách ra khỏi sự quản lý của Cơ quan thuế địa phương. Trong mô hình gốc của tác giả Larissa (2020) thì điều kiện nghiên cứu cũng như kết quả lại phản ánh tại các quốc gia phát triển, nơi các doanh nghiệp luôn thực hiện tốt trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh của mình thì cấp độ Cam kết và Chấp nhận nộp thuế chiếm đa số trong khi tỷ lệ Miễn cưỡng và Từ chối rất hạn chế.
Ngoài ra, tại các quốc gia phương tây nơi có hệ thống quản lý tài chính và thuế minh bạch rõ ràng do đó các doanh nghiệp buộc phải chấp nhận với việc nộp thuế của mình, rất khó khăn để trốn thuế tại các quốc gia phương Tây. Tuy nhiên, tại các nền kinh tế mới nổi, ví dụ như tại Việt Nam rõ ràng mức độ tuân thủ thuế và tinh thần tự nguyện của các doanh nghiệp còn hạn chế. Do đó, trong một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009), tác giả đã điều chỉnh từ mô hình gốc của Jerome và cộng sự (2018) trong điều kiện của nền kinh tế. Với mô hình điều chỉnh này, tác giả cho rằng tại điều kiện là các nước đang phát triển thì cấp độ các doanh nghiệp có thái độ Miễn cưỡng sẽ chiếm đa số trong khi cấp độ Chấp nhận và Cam kết chiếm thiểu số.