Chương 1: Tổng quan về chi phí tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.1 Tổng quan về chi phí tuân thủ thuế 1.1 Khái niệm về chi phí tuân thủ thuế Trên thế giới, có khá nhiều khái niệm về chi phí tuân thủ thuế, trong đó một số khái niệm phải kể tới như sau: Theo Slemrod và Sorum (1984) thì cho rằng khái niệm chi phí tuân thủ thuế liên quan đến tất cả các chi phí phải chịu bởi NNT hoặc bên thứ ba trong việc tuân thủ yêu cầu của hệ thống thuế, ngoài ra còn có khoản tiền thuế phải nộp. Theo Sandford, Godwin và Hardwick (1989), chi phí tuân thủ thuế được nảy sinh ra do khu vực công, và nó sẽ không xảy ra nếu thuế không tồn tại (hay nói cách khác chi phí tuân thủ thuế sẽ không xuất hiện nếu thuế bị bãi bỏ). Vì vậy, họ định nghĩa chi phí tuân thủ thuế là những chi phí phát sinh bởi những NNT hoặc các bên thứ ba (ví dụ như các DN) để đáp ứng những yêu cầu đặt ra với họ nhằm tuân thủ luật thuế với quy định và mức độ đã đưa ra. Sandford (1995) định nghĩa tiếp chi phí tuân thủ thuế là chi phí phát sinh bởi NNT để đáp ứng những yêu cầu của luật thuế và cơ quan thuế.
Những chi phí này vượt ra khỏi số tiền thuế phải chi trả và những chi phí do những biến dạng vốn có trong bản chất của thuế. Theo Chris Evans (2006), mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi về việc xác định chi phí được đưa vào tính toán chi phí tuân thủ thuế nhưng có thể xác định những chi phí cốt lõi không thể phủ nhận được để tuân thủ các yêu cầu của thuế như sau: - Những chi phí của lao động hoặc thời gian sử dụng để hoàn thành các hoạt động liên quan đến thuế. Ví dụ, thời gian để một nhân viên đạt được những hiểu biết cần thiết để xử lý các quy định về thuế như thuế TNCN, thuế GTGT,…; thời gian cần thiết để thu thập chứng từ, ghi chép số liệu để có thể hoàn thành việc hoàn thuế. - Những chi phí thuê chuyên gia bên ngoài để hỗ trợ việc hoàn thành các hoạt động về thuế (Ví dụ như, phí trả cho chuyên gia tư vấn thuế…) 9 - Những chi phí không thường xuyên phát sinh trong khi hoàn thành các hoạt động về thuế , bao gồm phần mềm máy tính, cước bưu điện, phí đi lại… Ngoài những chi phí chủ yếu kể trên, còn có một số chi phí cần phải kể đến như chi phí tâm lý do hệ thống thuế.
NNT chịu áp lực, lo lắng, thất vọng là kết quả của việc cố gắng tuân thủ các quy định của thuế. Tuy nhiên, những chi phí tâm lý này khó đo lường được. Vì vậy, một số chi phí xã hội khác khó đo lường cũng được lờ đi khỏi nghiên cứu. Theo OECD (2009) xác định “chi phí tuân thủ thuế là những một trong những yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến tuân thủ thuế.
NNT phải đối diện một số chi phí để tuân thủ quy định luật thuế ngoài số tiền thuế thực sự mà họ phải nộp. Chi phí này bao gồm thời gian hoàn thành yêu cầu theo quy định, chi phí kế toán và chi phí gián tiếp gắn liền với sự phức tạp của pháp luật, bao gồm chi phí tâm lý như sự căng thẳng thần kinh xuất phát từ sự không chắc chắn do phải đáp ứng hết tất cả quy định luật thuế hoặc hiểu luật thuế là gì” (Kiều Nguyệt Thủy Tiên, 2012). Tóm lại, chi phí tuân thủ thuế là những chi phí mà NNT bao gồm cả cá nhân và doanh nghiệp phát sinh do việc tuân thủ các quy định về luật thuế gây ra. Chi phí này bao gồm thời gian và tiền bạc NNT bỏ ra để hoàn thành các yêu cầu theo quy định của luật thuế.
Về tiền bạc, phải kể đến chi phí thuê nhân viên kế toán, chi phí thuê chuyên gia tư vấn bên ngoài, chi phí tiền phạt do thực hiện đúng quy định, chi phí tìm hiểu pháp luật thuế liên quan, chi phí hối lộ lót tay…Về thời gian, có thể liệt kê một số thời gian tiêu tốn như: thời gian hoàn thành các báo cáo theo quy định, thời gian tìm hiểu luật thuế, thời gian nộp hồ sơ thuế, …Ngoài ra, còn có chi phí tâm lý do lo lắng, căng thẳng khi tuân thủ luật thuế.2 Nội dung của một số chi phí tuân thủ thuế 1.1 Chi phí tuân thủ gộp và chi phí tuân thủ ròng Đầu tiên, chúng ta cần phân biệt chi phí tuân thủ gộp (hoặc chi phí tuân thủ xã hội) và chi phí tuân thủ ròng (hoặc chi phí tuân thủ của NNT). Theo Chris Evans (2006), chi phí tuân thủ gộp hoặc chi phí tuân thủ xã hội là những chi phí 10 của nền kinh tế, chủ yếu được quan tâm bởi Bộ tài chính và các nhà kinh tế. Chi phí tuân thủ ròng hoặc chi phí tuân thủ của NNT là những chi phí phát sinh trực tiếp từ những NNT, chủ yếu được quan tâm bởi các DN, các đối tượng nộp thuế khác và cơ quan thuế. Theo Sandford (1989), chi phí tuân thủ ròng bằng chi phí tuân thủ gộp trừ những lợi ích do tuân thủ thuế.
Lợi ích chủ yếu của việc tuân thủ thuế là lợi ích về dòng tiền phát sinh khi DN được sử dụng tiền thuế một thời gian trước khi nộp thuế cho nhà nước. Có thể viết công thức như sau: [1] Chi phí tuân thủ ròng = Chi phí tuân thủ gộp – Các lợi ích dòng tiền Tuy nhiên, theo Chris Evans, Tran-Nam & Michael Walpole (2000), cách tiếp cận trên chưa phân biệt thật rõ hai loại chi phí này, nghiên cứu này đã mô tả chi tiết các lợi ích bù đắp cho NNT khi thực hiện hoạt động tuân thủ thuế. Các lợi ích bù đắp gồm các lợi ích quản lý, các lợi ích dòng tiền và các lợi ích do được khấu trừ thuế. Ba lợi ích bù đắp này được giải thích như sau: Thứ nhất, các lợi ích quản lý phát sinh do buộc phải ghi chép sổ sách để để tuân thủ luật thuế giúp DN cải thiện việc ra quyết định và giảm chi phí kiểm soát nội bộ cho các DN nhỏ.
Về lý thuyết, lợi ích quản lý tồn tại nhưng khó tính toán nên thường bị loại khỏi khi nghiên cứu thực nghiệm, ngoại trừ một số nghiên cứu như Sandford et al. Thứ hai, các lợi ích dòng tiền phát sinh khi: - Thu nhập không bị tính thuế và nộp tại thời điểm nhận và NNT sử dụng tiền thuế một thời gian trước khi nộp thuế cho nhà nước. - Luật thuế cho phép DN trì hoãn việc nộp thuế mà DN đại diện thu hộ cho nhà nước. Lưu ý rằng, lợi ích dòng tiền có thể âm nếu NNT nộp nhiều hơn số tiền thuế phải nộp trong năm tài chính hoặc nộp tiền thuế trước khi thu được tiền.
Ngoài ra, lợi ích dòng tiền được coi là tổn thất đối với nhà nước, nên lợi ích dòng tiền thể hiện sự chuyển đổi trong nền kinh tế, nó 11 làm giảm chi phí tuân thủ thuế của NNT nhưng không phải nền kinh tế. Ta có: [2] Lợi ích dòng tiền của NNT = Lợi ích dòng tiền mất đi của Cơ quan thuế Thứ ba, các lợi ích do khấu trừ thuế cũng giống như lợi ích dòng tiền, nó thể hiện sự chuyển đổi trong nền kinh tế, không làm giảm chi phí tuân thủ thuế xã hội và các nhà kinh tế tập trung vào chi phí cơ hội cho toàn xã hội. Lợi ích do khấu trừ thuế phát sinh khi luật pháp cho phép khấu trừ một số chi phí khi tính thuế. Ví dụ, ở Úc, các cá nhân có thể trừ chi phí trả cho các nhà tư vấn thuế và các chi phí liên quan đến kê khai thuế ra khỏi thu nhập chịu thuế.
Ở Việt Nam, luật thuế TNDN cho phép trừ các chi phí hợp lý hợp lệ liên quan đến hoạt động kinh doanh ra khỏi thu nhập chịu thuế TNDN. Ta có: [3] Lợi ích do khấu trừ thuế của NNT = Số thu mất đi của cơ quan thuế Kết hợp công thức [2] và [3], ta có: [4] Chi phí tuân thủ xã hội = Chi phí bằng tiền trực tiếp phát sinh bởi NNT + Chi phí thời gian và nguồn lực quy đổi tiêu tốn bởi NNT liên quan đến tuân thủ thuế - Lợi ích quản lý cho NNT [5] Chi phí tuân thủ của NNT = Chi phí tuân thủ xã hội - Lợi ích dòng tiền và lợi ích khấu trừ thuế cho NNT. Từ công thức [4] và [5], ta có thể coi chi phí tuân thủ xã hội như chi phí phí tuân thủ gộp trong công thức [1]. Tuy nhiên, chi phí tuân thủ ròng trong công thức [1] lớn hơn chi phí tuân thủ của NNT vì nó chưa tính đến lợi ích dòng tiền và lợi ích khấu trừ thuế cho NNT.
Cũng theo Chris Evans, Tran-Nam & Michael Walpole (2000), sự phân biệt giữa chi phí tuân thủ xã hội và chi phí tuân thủ của NNT tạo nên sự khác nhau về quan điểm giữa những nhà nghiên cứu về thuế và những nhà làm chính sách thuế. Hầu hết các nhà nghiên cứu về thuế, đặc biệt các nhà kinh tế tài chính công, sẽ quan tâm đến chi phí tuân thủ xã hội liên quan đến các chính sách; trong khi đó, 12 các nhà làm chính sách thuế chủ yếu quan tâm đến chi phí tuân thủ thuế của NNT. Với mục tiêu nghiên cứu đề ra những giải pháp để cắt giảm chi phí tuân thủ thuế TNDN của DN nhỏ và vừa, tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu chi phí tuân thủ thuế của NNT.2 Chi phí để tính toán và chi phí kế hoạch hoặc chi phí tự nguyện và chi phí không tự nguyện Tiếp theo, người ta còn phân loại chi phí tuân thủ thuế thành chi phí để tính toán và chi phí lập kế hoạch thuế. Theo Chris Evans (2006) chi phí để tính toán là chi phí không thể tránh được hoặc chi phí không tự nguyện; chi phí lập kế hoạch thuế là chi phí có thể tránh được hoặc chi phí tự nguyện.
Chi phí tự nguyện là chi phí NNT sẵn sàng bỏ ra để hỗ trợ cho việc lên kế hoạch trong năm nhằm giảm bớt số thuế phải đóng như chi phí thuê chuyên gia tư vấn thuế bên ngoài, chi phí lên kế hoạch thuế. Còn chi phí không tự nguyện là chi phí NNT bắt buộc phải bỏ ra để tuân thủ các quy định như chi phí và thời gian lập báo cáo cho cơ quan thuế, chi phí tìm hiểu luật thuế. Khởi đầu của sự phân biệt này là Johnston (1963), tạo nên sự tranh cãi.