phần mở đầu và kết luận, đề án tốt nghiệp đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về kiểm soát thu thuế thu nhập doanh nghiệp 7 Chƣơng 2. Thực trạng kiểm soát thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục Thuế Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Chƣơng 3. Các giải pháp tăng cƣờng kiểm soát thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục Thuế Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THU THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về thuế thu nhập doanh nghiệp. Khái niệm về thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế ra đời gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của nhà nƣớc, từng bƣớc hoàn thiện vai trò và chức năng của nhà nƣớc đối với nền kinh tế. Nhà nƣớc ra đời đòi hỏi phải có một bộ máy hành chính để quản lý điều hành và bảo vệ đất nƣớc, vì vậy cần phải có một nguồn tài chính thƣờng xuyên phục vụ cho các hoạt động này.
Do đó thuế ra đời với tƣ cách là một công cụ tài chính để tạo lập nguồn thu nhằm duy trì hoạt động của bộ máy hành chính nhà nƣớc. Xã hội ngày càng phát triển đi lên và nhà nƣớc cũng đã dần dần hoàn thiện đƣợc chức năng và nhiệm vụ của mình. Nhà nƣớc không chỉ thực hiện chức năng điều hành và bảo vệ đất nƣớc mà còn là tác nhân chủ đạo trong việc phát triển kinh tế đất nƣớc. Trong đó, thuế đóng góp một phần rất quan trọng với chức năng là công cụ bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc và là công cụ vĩ mô quan trọng của nhà nƣớc trong việc điều tiết đối với nền kinh tế.
Theo Ăng-ghen:“ Để duy trì quyền lợi công cộng cần phải có sự đóng góp của những ngƣời công dân của nhà nƣớc đó là thuế”. Còn theo một số nhà kinh tế hiện đại: “Thuế là khoản đóng góp mang tính chất pháp lệnh của nhà nƣớc bắt buộc mọi công dân hoặc các tổ chức kinh tế nộp vào ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nƣớc. Khoản nộp về thuế 8 không mang tính hoàn trả trực tiếp mà qua các khoản trợ cấp xã hội, phúc lợi công cộng thuế đƣợc hoàn trả gián tiếp”. Ngoài ra còn một số các quan điểm khác và ở mỗi quan điểm cũng đã nhấn mạnh đƣợc tác dụng của thuế đối với nền kinh tế.
Qua những quan điểm của các nhà kinh tế ta có thể rút ra đƣợc bản chất cơ bản của thuế nhƣ sau: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân đối với Nhà nƣớc, thuế do Nhà nƣớc đặt ra và đƣợc luật pháp quy định. Thuế thu vào ngân sách để đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho Nhà nƣớc, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho các đối tƣợng nộp thuế. Thuế đảm bảo cho Nhà nƣớc thực hiện điều tiết kinh tế, phân phối lại thu nhập và các chức năng xã hội khác. Thông thƣờng một hệ thống thuế gồm những sắc thuế đƣợc sắp xếp vào 3 nhóm, đó là: Nhóm các sắc thuế thuộc loại thuế đánh vào thu nhập (gọi chung là thuế thu nhập).
Nhóm các sắc thuế thuộc loại thuế đánh vào thu nhập đem ra sử dụng (gọi chung là thuế tiêu dùng hay thuế hàng hoá). Nhóm các sắc thuế thuộc loại thuế đánh vào thu nhập đã hình thành nên tài sản (gọi chung là thuế tài sản hay thuế vốn). Trong đó thuế TNDN là một sắc thuế thuộc loại thuế thu nhập, nó đƣợc hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng vì tính hiệu quả và khả năng bao quát nguồn thu. Mỗi nƣớc với những đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau thì việc áp dụng thuế TNDN ở từng nƣớc cũng khác nhau.
Tuy nhiên, ta có thể đƣa ra một khái niệm đƣợc pháp luật Việt Nam thừa nhận nhƣ sau: “Thuế 9 TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập của các doanh nghiệp sau khi trừ đi các chi phí liên quan đến thu nhập đó”. Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của các tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế Tuy nhiên, không phải toàn bộ thu nhập của cơ sở sản xuất kinh doanh đều là đối tƣợng điều chỉnh của thuế TNDN. Thuế TNDN chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế. Vì việc đánh thuế vào loại thu nhập nào, đánh nặng hay đánh nhẹ vào từng loại thu nhập là tuỳ thuộc vào quan điểm của mỗi Nhà nƣớc về điều tiết thu nhập qua thuế thu nhập, phụ thuộc vào khả năng quản lý thuế, chi phí quản lý thuế cũng nhƣ mục tiêu của thuế thu nhập phải đạt đƣợc để góp phần thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định Thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh càng hiệu quả thì mức đóng thuế sẽ càng lớn. Thuế TNDN đƣợc đánh trực tiếp vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh hàng hóa dịch vụ sau khi đã trừ đi các khoản chi phí liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh đó. So với các loại thuế khác, thuế TNDN có những đặc trƣng cơ bản sau đây: Đối tƣợng nộp thuế theo Luật quy định đồng nhất với đối tƣợng chịu thuế: NNT theo Luật cũng là ngƣời trả thuế cuối cùng trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Nói một cách khác, thuế TNDN làm cho khả năng và cơ hội chuyển dịch gánh nặng thuế cho ngƣời khác trở nên khó khăn hơn.
Thuế TNDN là một khoản chuyển giao của NNT cho Nhà nƣớc mang tính bắt buộc phi hình sự: Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn 10 có của thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng, nó phân biệt thuế TNDN với các hình thức huy động tài chính khác của NSNN. Đặc điểm này xác định rõ nội dung kinh tế của thuế TNDN là những quan hệ tiền tệ đƣợc hình thành một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt. Việc chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế TNDN không mang tính chất hoàn trả trực tiếp: Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế TNDN đƣợc biểu hiện trên các khía cạnh: + Sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nƣớc không hoàn toàn dựa trên mức độ NNT thừa hƣởng những dịch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nƣớc cung cấp. NNT cũng không có quyền đòi hỏi Nhà nƣớc phải cung cấp hàng hoá dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới phát sinh khoản chuyển giao thu nhập cho Nhà nƣớc, mặt khác mức độ cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nƣớc cũng không nhất thiết ngang bằng mức độ chuyển giao.
+ Khoản chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế TNDN không đƣợc hoàn trả trực tiếp, có nghĩa là NNT suy cho cùng sẽ nhận đƣợc một phần các dịch vụ công cộng mà Nhà nƣớc cung cấp chung cho cả cộng đồng giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tƣơng đồng với khoản tiền thuế mà họ nộp cho Nhà nƣớc. Việc chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế TNDN đƣợc quy định trƣớc bằng pháp luật: Đặc điểm này, một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế TNDN, mặt khác phản ánh sự chuyển giao thu nhập này không mang tính tùy tiện mà dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định và đã đƣợc xác định trƣớc trong Luật thuế TNDN. Những tiêu thức thƣờng đƣợc xác định trong Luật thuế TNDN là đối tƣợng chịu thuế, đối tƣợng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cƣỡng chế khác 11 1. Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 ngày 3/6/2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN số 32/2013/QH13 ngày 19/6/2013 đã mở rộng đối tƣợng chịu thuế, bao gồm toàn bộ thu nhập nhận đƣợc trong nền kinh tế thị trƣờng và thống nhất áp dụng đối với mọi thành phần kinh tế và mọi loại hình doanh nghiệp, giữa đối tƣợng đầu tƣ nƣớc ngoài và các doanh nghiệp trong nƣớc.
Điều này tạo nên một môi trƣờng cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh hơn trong điều kiện nền kinh tế mới, tạo cho nền kinh tế đất nƣớc nhanh chóng hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới .Với quy định đó, có thể thấy thuế TNDN có vai trò rất lớn đối với Nhà nƣớc, NNT cụ thể: Thuế TNDN là công cụ quan trọng và hiệu quả trong việc bảo đảm nguồn thu cho NSNN đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Chính phủ: Thuế là nguồn thu chủ yếu cho NSNN nhằm đảm bảo trang trải cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc, cho nên cũng giống nhƣ các loại thuế khác, vai trò đầu tiên của thuế TNDN là bảo đảm một nguồn thu ổn định và không nhỏ cho NSNN thông qua việc ngày càng mở rộng đối tƣợng chịu thuế, có khả năng bao quát đƣợc hầu hết các nguồn thu nhập phát sinh trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển, xuất hiện nhiều loại hình thu nhập phức tạp và tinh vi hơn trƣớc. Thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nƣớc trong việc quản lý vĩ mô nền kinh tế, điều tiết các hoạt động kinh doanh: Thông qua hệ thống ƣu đãi về thuế suất, miễn giảm thuế, thuế TNDN góp phần định hƣớng cho các nhà đầu tƣ đầu tƣ vào các lĩnh vực, địa bàn mà Nhà nƣớc cần khuyến khích đầu tƣ, từ đó thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế nhằm đảm bảo cơ cấu kinh tế hợp lý, thực hiện chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc trong từng thời kỳ. Thuế TNDN là công cụ quan trọng để Nhà nƣớc thực hiện chức năng 12 tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội: Trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta, tất cả các thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trên cơ sở pháp luật. Các doanh nghiệp với lực lƣợng lao động có tay nghề cao, năng lực tài chính mạnh thì doanh nghiệp đó sẽ có ƣu thế và có cơ hội để nhận đƣợc thu nhập cao; ngƣợc lại các doanh nghiệp với năng lực tài chính, lực lƣợng lao động bị hạn chế sẽ nhận đƣợc thu nhập thấp, thậm chí không có thu nhập.