phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế tài nguyên Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thu thuế tài nguyên tại tỉnh Đắk Lắk Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế tài nguyên tại C ục Thuế tỉnh Đắk Lắk 6. Tổng quan nghiên cứu của đề tài - Giáo trình Nghiệp vụ thuế, NXB Tài chính, Hà Nội. Nguyễn Thị Liên và Nguyễn Văn Hiệu (2008) - Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 25 tháng 11 năm 2009 - Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên; - Thông tƣ số 152/2015/TT-BTC ngày 02/10/2015 Hƣớng dẫn về thuế tài nguyên - Quản lý thuế tài nguyên – Những điểm quy định mới và một số vƣớng mắc từ thực tiễn, NGUYỄN BÁ PHÚ - Cục thuế Thanh Hóa – theo Tạp chí Kiểm toán số 9/2011 - Báo cáo nghiên cứu, đánh giá “Thực trạng về quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản Việt Nam” của Tổng hội địa chất Việt Nam - Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa 5 xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI , kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007) và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hƣớng dẫn thi hành; - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kỳ họp thứ 4, thông qua ngày 20/11/2012 (Có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013) và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hƣớng dẫn thi hành; - Luật Thuế tài nguyên số 49/2009/QH12 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 25/11/2009 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2010) và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hƣớng dẫn thi hành; - Pháp lệnh của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội số 38/2001/PL- UBTVQH10 ngày 28/8/2001 về phí và lệ phí có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2002 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hƣớng dẫn thi hành; - Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về các loại thuế, phí trong lĩnh vực tài nguyên, khoáng sản (Thuế giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp, phí bảo vệ môi trƣờng đối với khai thác khoáng sản, phí cấp quyền khai thác khoáng sản…); - Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011) và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hƣớng dẫn thực hiện; - Chỉ đạo của Ban Thƣờng vụ Tỉnh ủy tại Chƣơng trình số 08/CTr-TU ngày 07/10/2011 và kế hoạch số 2033/KH-UBND ngày 24/4/2012 của UBND tỉnh về việc “Định hƣớng chiến lƣợc khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”; 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN 1. Một số khái niệm a. Khái niệm về thuế Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chƣa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế, bởi lẽ giác độ nghiên cứu có nhiều khác biệt. Nhìn chung, các nhà kinh tế khi đƣa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế mà mình muốn khai thác hoặc tìm hiểu, chƣa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế.
Chẳng hạn theo quan niệm của Ph.Ăngghen: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khoá. Với quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực Nhà nƣớc. Cũng từ luận điểm này, Mác phát triển thêm rằng trong một Nhà nƣớc có giai cấp (một giai cấp giành đƣợc quyền thống trị) thì thuế thực ra là khoản đóng góp bắt buộc để duy trì quyền lực của giai cấp đó. Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, nghĩ rằng việc bắt buộc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cai trị, thì họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ công dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế.
Quan điểm này đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà kinh tế có quan điểm xã hội trong việc củng cố lập trƣờng đấu tranh giai cấp. Bên cạnh đó, cũng có những quan điểm khác nhau về thuế, đƣợc nhìn nhận trên các bình diện khác nhau. Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả ngƣời Anh Chrisopher Pass and Bryan Lowes (1994), đứng trên giác độ đối tƣợng chịu thuế đã cho rằng: Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên 7 thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp, trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ và trên tài sản. Một khái niệm khác về thuế tƣơng đối hoàn thiện đƣợc nêu trong cuốn "Economics" của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell and Bruy-M (1993), dựa trên cơ sở đối giá nhƣ sau: "Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty hoặc các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản tiền đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật" (Thuế Nhà nƣớc, 2000).
Trong quan điểm này ngƣời ta chỉ nhìn nhận thuế trên giác độ các đối tƣợng nộp thuế và đối tƣợng chịu thuế, không nói đến việc sử dụng tiền thuế để làm gì, chỉ thể hiện việc đánh thuế nhƣ là một nghĩa vụ công dân của các doanh nghiệp và hộ gia đình với đất nƣớc mình đang kinh doanh hoặc sinh sống. Các quan điểm này cũng chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển của thuế trong thời đoạn lịch sử nhất định Trên giác độ phân phối thu nhập định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Trên giác độ người nộp thuế thì: Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Trên giác độ kinh tế học thì: Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Những khái niệm về thuế nêu trên mới chỉ nhấn mạnh một chiều theo 8 quan niệm của từng góc độ khác nhau nên chƣa thật đầy đủ và chính xác đƣợc bản chất của thuế. Đến nay tuy chƣa có một định nghĩa thống nhất về thuế, nhƣng các nhà kinh tế đều thống nhất cho rằng, để làm rõ đƣợc bản chất của thuế, thì định nghĩa về thuế phải nêu bật đƣợc các khía cạnh sau: - Nội dung kinh tế của thuế đƣợc đặc trƣng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nƣớc với các pháp nhân và thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp; - Những mối quan hệ dƣới dạng tiền tệ này đƣợc nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nƣớc; - Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nƣớc các khoản thuế đã đƣợc pháp luật quy định; - Và việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung. Trải qua nhiều giai đoạn và đƣợc nhận định trên nhiều giác độ khác nhau, thì một định nghĩa về thuế vẫn còn đang đƣợc áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế thị trƣờng, điển hình là khái niệm về thuế của Gaston Jèze (1934) trong Giáo trình tài chính công. Dựa vào định nghĩa này và các yêu cầu nêu trên, có thể đƣa ra một khái niệm về thuế nhƣ sau: Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng.
Vai trò của thuế Thứ nhất: Thuế là công cụ chủ yếu huy động tập trung nguồn lực cho Nhà nƣớc. "Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN". Thứ hai: Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thứ ba: Thuế góp phần điều hòa thu nhập và thực hiện công bằng xã hội trong phân phối 9 b.
Khái niệm về thuế tài nguyên và chính sách thuế tài nguyên Tài nguyên thiên nhiên bao gồm tất cả các nguồn năng lƣợng, nguyên liệu, vật liệu tự nhiên có trên trái đất, trong không gian mà con ngƣời có thể khai thác, sử dụng phục vụ cuộc sống, sự phát triển của mình và của xã hội. Tài nguyên thiên nhiên là nguồn tài sản của quốc gia, thuộc quyền sở hữu của Nhà nƣớc, do Nhà nƣớc thống nhất quản lý. Đối với các quốc gia có nguồn TNTN phong phú nếu quản lý khai thác, sử dụng hiệu quả thì nó là nguồn lợi lớn và lâu dài cho sự phát triển của quốc gia đó. Ngƣợc lại, nếu việc quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên bừa bãi, lãng phí, sẽ gây ra hậu quả xấu không chỉ cho sự phát triển kinh tế mà còn ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng sống của quốc gia đó.
Để bảo đảm việc bảo vệ khai thác, sử dụng TNTN đạt hiệu quả, tránh việc khai thác, sử dụng bừa bãi, lãng phí, gây ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng sống, các quốc gia thƣờng sử sụng nhiều công cụ và biện pháp quản lý khác nhau. Công cụ tài chính là một trong những công cụ quan trọng để quản lý tài nguyên, trong đó có việc thu thuế đối với hoạt động khai thác TNTN, đó chính là thuế tài nguyên.