CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TRA THUẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề chung về kiểm tra thuế 1. Kiểm tra thuế và tính tất yếu của kiểm tra thuế Theo giáo sư Michel Bouvier, tác giả cuốn “Nhập môn về luật thuế đại cương và lý thuết thuế”, kiểm tra thuế là “Hoạt động nhằm xem xét tính trung thực, tính chính xác của cơ sở tính thuế mà người nộp thuế đã kê khai” [1, tr. Theo Giáo trình Nghiệp vụ thuế của Học viện tài chính, “Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra” [2, tr.214] Theo quan điểm của một số học giả trên thế giới, khái niệm kiểm tra thuế đồng nhất với khái niệm thanh tra thuế, đều là “Hoạt động do cơ quan thuế tiến hành nhằm kiểm tra tài liệu của người nộp thuế để xác định sự tuân thủ pháp luật của người nộp thuế”.
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm chung về kiểm tra thuế, đó là “Hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra”. Kiểm tra thuế không chỉ quan trọng đối với hoạt động của ngành Thuế mà còn có ý nghĩa lớn đối với hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Điều đó xuất phát từ tính tất yếu của công tác kiểm tra thuế: Thứ nhất, thuế là một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, do đó quá trình thực thi các luật thuế có nghiêm minh hay không sẽ ảnh hưởng và quyết định đến hiệu quả sử dụng công cụ thuế. Vì lẽ đó, kiểm tra thuế là hết sức cần 4 thiết nhằm đảm bảo phát huy tối đa chức năng quản lý thuế của cơ quan thuế các cấp, đảm bảo tính mục đích và tính hiệu quả của thuế đối với các hoạt động kinh tế xã hội.
Thứ hai, luật pháp nói chung và pháp luật thuế nói riêng là sự thể hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật thuế ở nước ta còn đang trong quá trình cải cách, chưa thật hoàn chỉnh, do vậy cần thiết phải tăng cường hệ thống kiểm tra để phát hiện những thiếu sót và bổ sung sửa chữa kịp thời hệ thống pháp luật thuế cho phù hợp với thực tiễn, nhằm khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển. Thứ ba, trốn thuế, vi phạm về thuế là một tồn tại không thể tránh trong bất kỳ một nền kinh tế nào. Tại Việt Nam, vấn đề này càng nan giải và trở nên phổ biến, gây tập quán kinh doanh xấu trong xã hội.
Vì vậy, công tác kiểm tra cần phải nhấn mạnh để kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi phạm pháp, trốn thuế làm ảnh hưởng đến số thu NSNN và tạo nên sự bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân, NNT. Thứ tư, xuất phát từ yêu cầu của công tác tổ chức cán bộ thuế. Thực tiễn cho thấy, dù luôn được quan tâm chú trọng song một số cán bộ thuế vì trình độ chuyên môn kém, vì lợi ích cá nhân và do môi trường làm việc luôn tồn tại cám dỗ về vật chất làm cho phẩm chất đạo đức bị thoái hóa, biến chất và có những biểu hiện vi phạm pháp luật thuế làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý thuế và hiệu quả thu thuế. Do đó, cần thiết phải có hoạt động kiểm tra để kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hiện tượng lạm dụng chức quyền tham ô, xâm tiêu tiền thuế của Nhà nước, góp phần giữ vững kỷ cương phép nước và giữ vững sự trong sạch của đội ngũ cán bộ thuế.
Nguyên tắc kiểm tra thuế Mục đích của kiểm tra thuế là phát huy nhân tố tích cực, ngăn ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, của các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa. Để đạt được những mục đích trên, công tác kiểm tra thuế cần phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định như sau: 5 Nguyên tắc tuân thủ pháp luật Pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nước, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân. Kiểm tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật nên phải tuân thủ pháp luật. Thực hiện đúng nguyên tắc này có nghĩa là các cơ quan và cán bộ kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định; xem xét sự đúng sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào quy định của pháp luật, không tuân theo ý kiến của bất cứ một cơ quan hoặc cá nhân nào.
Kết luận kiểm tra theo đúng quy định pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan Đảm bảo tính trung thực, chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong công tác kiểm tra. Có trung thực, chính xác, khách quan trong công tác kiểm tra thì mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, xử lý đúng người, đúng việc, đúng pháp luật. Nguyên tắc khách quan và chính xác đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tượng như nó vốn có, không suy diễn hay quy chụp một cách chủ quan, phải tiến hành công việc một cách thận trọng.
Nguyên tắc trung thực đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải phản ánh và đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; vô tư, không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân; phải tỉ mỉ, cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn. Nguyên tắc công khai, dân chủ Tính công khai trong kiểm tra thuế tức là phải thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ của nhân dân. Việc công khai bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như công khai quyết định kiểm tra, tiếp xúc công khai với các đối tượng có liên quan và công bố công khai kết luận kiểm tra. Dân chủ trong hoạt động kiểm tra là thể hiện sự tôn trọng khách quan, tôn trọng quần chúng, lấy dân làm gốc.
Dân chủ trong hoạt động kiểm tra nhằm lôi cuốn sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, sử dụng quần chúng như là những tai mắt của lực lượng kiểm tra. 6 Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải coi trọng việc tiếp nhận, thu thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng kiểm tra được trình bày ý kiến của mình, nhất là khi giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân. Nguyên tắc bảo vệ bí mật Cần quán triệt nguyên tắc này trong kiểm tra thuế là vì trong quá trình kiểm tra người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp, bí mật quốc gia. Nếu để lộ cho những đối tượng không được phép biết sẽ làm thiệt hại lợi ích quốc gia và các doanh nghiệp.
Do vậy, họ chỉ báo cáo cho những người có thẩm quyền được biết. Nguyên tắc hiệu quả Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo cho kiểm tra thuế đạt được mục đích của nó. Nguyên tắc này đòi hỏi kiểm tra thuế phải đảm bảo tính hiệu quả, nghĩa là phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm; phải đảm bảo giúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế. Yêu cầu của công tác kiểm tra thuế Đảm bảo chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời Kiểm tra thuế phải đảm bảo chính xác, khách quan, trung thực, xử lý đúng người đúng tội, không bao che, quy chụp cho các đối tượng được kiểm tra.
Tính chính xác, khách quan để đảm bảo đánh giá đúng thực trạng, tình hình của cơ sở kinh doanh được kiểm tra, phản ánh đúng sự thật không thiên vị bóp méo sự việc, giúp cho việc xử lý các sai phạm đúng người, đúng việc, đúng pháp luật. Đây là yêu cầu hàng đầu của kiểm tra thuế vì chỉ khi đảm bảo những yêu cầu này mới đạt được mục đích của công tác kiểm tra thuế, mới làm cho kiểm tra thuế thực sự trở thành cán cân công lý, mới có được sự tin tưởng của quần chúng nhân dân. Kiểm tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ, kịp thời, tạo điều kiện tốt nhất để quần chúng nhân dân tham gia ý kiến. Tính công khai thể hiện ở việc phải thông báo đầy đủ nội dung kiểm tra; tiếp xúc công khai với đối tượng kiểm tra và mọi người có liên quan ở nơi kiểm tra; công khai biên bản, kết luận kiểm tra.
Tính dân chủ nhằm tránh biểu hiện chủ quan, áp đặt, bất chấp ý kiến người khác. Đảm bảo công khai, dân chủ là yêu cầu quan trọng của công 7 tác kiểm tra thuế vì thông qua đó phát huy được sức mạnh và vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác giám sát tuân thủ pháp luật. Yêu cầu kịp thời được đặt ra trong công tác kiểm tra thuế nhằm khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý Nhà nước; giúp cơ quan thuế các cấp ngăn chặn đúng lúc, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật thuế qua kiểm tra thuế, tránh những tổn thất nặng nề cho Nhà nước và nhân dân. Mọi hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật Khi tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế tại cơ sở kinh doanh phải có quyết định thanh tra, kiểm tra do người có thẩm quyền ban hành.
Trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế các cán bộ thanh tra, kiểm tra cần tôn trọng tính độc lập, nghiêm túc khi thực hiện các quyền trong phạm vi pháp luật cho phép. Kiểm tra thuế phải đảm bảo thực hiện đúng các luật thuế, ngăn ngừa, loại trừ các hành vi trốn, lậu thuế Đây là yêu cầu thiết yếu của công tác kiểm tra thuế; đạt được yêu cầu này thì công tác kiểm tra thuế mới làm tròn chức năng và nhiệm vụ của mình. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế 1.