CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHU TRÌNH BÁN HÀNG VÀ THU TIỀN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ Kiểm soát luôn là một khâu quan trọng trong mọi quy trình quản trị, do đó các nhà quản lý thường chú tâm đến việc hình thành và duy trì các hoạt động kiểm soát để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Cùng với sự phát triển của thực tiễn quản lý, khái niệm kiểm soát nội bộ đã hình thành và phát triển để trở thành một hệ thống lý luận về vấn đề hệ thống lý luận trong tổ chức, nó phục vụ đắt lực trong công tác quản lý doanh nghiệp. Qua quá trình nhận thức và nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đã dẫn đến sự hình thành các định nghĩa khác nhau từ đơn giản đến phức tạp về hệ thống này.
Đến nay, khái niệm được chấp nhận khá rộng rãi là khái niệm được đưa ra vào năm 1992 bởi COSO (Committee of Sponsoring Organization – COSO là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính). “Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây: Báo cáo tài chính đáng tin cậy. Các luật lệ và quy định được tuân thủ. Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.” Trong định nghĩa trên, có bốn nội dung cơ bản là quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu.
Chúng được hiểu như sau: Luan van -9 - Kiểm soát nội bộ là một quá trình. Kiểm soát nội bộ bao gồm một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất. Quá trình kiểm soát là phương diện để giúp cho đơn vị đạt được các mục tiêu của mình. Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người.
Cần hiểu rằng kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu,… mà phải bao gồm cả những con người trong tổ chức như Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và các nhân viên. Chính con người sẽ định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng. Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, chứ không phải đảm bảo tuyệt đối là các mục tiêu sẽ đạt được. Vì khi vận hành, hệ thống kiểm soát, những yếu kém có thể xảy ra do các sai lầm của con người… nên dẫn đến không đạt được các mục tiêu.
Kiểm soát nội bộ có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra. Hơn nữa, một nguyên tắc cơ bản trong việc đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. Do đó, tuy người quản lý có thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro, thế nhưng nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá cao thì họ vẫn không áp dụng các thủ tục để kiểm soát rủi ro. Các mục tiêu của kiểm soát nội bộ.
- Đối với báo cáo tài chính, kiểm soát nội bộ phải đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy, bởi chính người quản lý đơn vị phải có trách nhiệm lập báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực kế toán hiện hành. - Đối với tính tuân thủ, KSNB trước hết phải đảm bảo hợp lý việc chấp hành luật pháp và các quy định. Điều này xuất phát từ trách nhiệm người quản lý đối với những hành vi không tuân thủ trong đơn vị. Bên cạnh đó, KSNB còn hướng dẫn mọi thành viên trong đơn vị vào việc tuân thủ các Luan van -10- chính sách, quy định nội bộ của đơn vị, qua đó đảm bảo đạt được các mục tiêu của đơn vị.
- Đối với mục tiêu sự hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động, KSNB giúp đơn vị bảo vệ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo mật thông tin, nâng cao uy tín, mở rộng thị phần, thực hiện các chiến lược kinh doanh của đơn vị,… Như vậy, các mục tiêu của hệ thống KSNB rất rộng, chùng bao trùm lên mọi mặt hoạt động và có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của đơn vị.2 Vai trò của kiểm soát nội bộ Từ khái niệm nêu trên về KSNB đã phần nào giúp cho chúng ta nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống KSNB trong doanh nghiệp. Một hệ thống KSNB vững mạnh sẽ đem lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích: Giúp Ban lãnh đạo doanh nghiệp giảm bớt tâm trạng bất an về những rủi ro, nhất là về con người và tài sản. Giúp Ban lãnh đạo doanh nghiệp giảm tải trọng những công việc hàng ngày để tập trung vào vấn đề chiến lược. Giúp Ban lãnh đạo doanh nghiệp chuyên nghiệp hóa công tác quản lý điều hành cụ thể: - Doanh nghiệp được quản lý một cách khoa học chứ không phải thuần túy bằng cảm tính (kinh nghiệm và trực giác).
- Doanh nghiệp được quản lý bằng cơ chế và quy chế chứ không phải thuần túy dựa vào lòng tin. Thông thường, khi doanh nghiệp càng phát triển thì hệ thống KSNB càng có điều kiện phát huy hiệu quả và lợi ích đem lại cho doanh nghiệp cũng trở nên to lớn hơn. Đối với công ty cổ phần, đặc biệt là cổ phần đại chúng, nơi có sự tách biệt lớn giữa người quản lý và cổ đông, một hệ thống KSNB vững Luan van -11- mạnh sẽ góp phần tạo dựng lòng tin của cổ đông đối với DN. Do vậy, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống KSNB hiệu quả đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của nhiều DN, trong đó có các công ty cổ phần, đặc biệt đối với công ty cổ phần có quy mô nhỏ và vừa.
Để thực hiện thành công các biện pháp KSNB đòi hỏi doanh nghiệp phải tuân theo một số nguyên tắc chung: - Một môi trường văn hóa nhấn mạnh đến sự chính trực, giá trị đạo đức và phân công trách nhiệm rõ ràng. - Quy trình hoạt động và quy trình KSNB được xác định rõ ràng bằng văn bản và được truyền đạt rộng rãi trong nội bộ công ty. - Các hoạt động rủi ro được phân tích rõ ràng giữa những nhân viên khác nhau; - Tất cả giao dịch phải được thực hiện với sự ủy quyền thích hợp; - Mọi nhân viên điều phải tuân thủ KSNB - Trách nhiệm kiểm tra và giám sát được phân tách rõ ràng; - Định kỳ tiến hành các biện pháp kiểm tra độc lập; - Mọi giao dịch quan trọng phải được ghi lại dưới dạng văn bản; - Định kỳ phải kiểm tra, nâng cao hiệu quả các biện pháp KSNB. Như vậy, KSNB thực chất là các hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy chính sách và nổ lực của mỗi thành viên trong tổ chức để đảm bảo cho tổ chức đó hoạt động hiệu quả và đạt được mục tiêu đặt ra hợp lý.3 Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ Dù có sự khác biệt đáng kể về tổ chức hệ thống KSNB giữa các đơn vị vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô, tích chất, hoạt động, mục tiêu… của từng nơi, thế nhưng bất kỳ một hệ thống KSNB nào cũng phải bao gồm những bộ phận cơ bản.
Theo quan điểm Coso hiện nay, KSNB bao gồm các bộ phận sau: Luan van -12- Môi trường kiểm soát Đánh giá rủi ro Hoạt động và kiểm soát Thông tin và truyền thông Giám sát a) Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một đơn vị, nó chi phối ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị và là nền tảng đối với các bộ phận khác của kiểm soát nội bộ. Các nhân tố chính thuộc về môi trường kiểm soát là: Tính chính trực và giá trị đạo đức. Sự hữu hiệu của hệ thống KSNB trước tiên phụ thuộc vào tính chính trực và việc tôn trọng các giá trị đạo đức của những người liên quan đến các quá trình kiểm soát. Để đáp ứng yêu cầu này, các nhà quản lý cao cấp phải xây dựng những chuẩn mực về đạo đức trong đơn vị và cư xử đúng đắn để có thể ngăn cản không cho các thành viên có hành vi thiếu đạo đức hoặc phạm pháp.
Muốn vậy, những nhà quản lý cần phải làm gương cho cấp dưới về việc tuân thủ các chuẩn mực và cần phải phổ biến những quy định đến mọi thành viên bằng các thể thức thích hợp. Một cách khác để nâng cao tính chính trực và sự tôn trọng các giá trị đạo đức, đơn vị phải loại trừ hoặc giảm thiểu những sức ép hay điều kiện có thể dẫn đến nhân viên có hành vi thiếu trung thực. Đảm bảo về năng lực. Là đảm bảo cho nhân viên có được những kỹ năng và hiểu biết cần thiết để thực hiện được nhiệm vụ của mình, nếu không chắc chắn họ sẽ thực hiện nhiệm vụ không hữu hiệu và hiệu quả.
Do đó, nhà quản lý chỉ nên tuyển dụng các nhân viên có kiến thức và kinh nghiệm phù hợp với nhiệm vụ sẽ được giao, phải giám sát và huấn luyện họ đầy đủ và Luan van -13- thường xuyên. Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán. Nhiều nước trên thế giới yêu cầu các công ty cổ phần có niêm yết ở thị trường chứng khoán phải thành lập Ủy ban kiểm toán. Đây là Ủy ban gồm một số thành viên trong và ngoài Hội đồng quản trị nhưng không tham gia vào việc điều hành đơn vị.
Ủy ban kiểm toán có thể có những đóng góp quan trọng cho việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị, thông qua việc giám sát tuân thủ pháp luật, giám sát việc lập báo cáo tài chính, giữ sự độc lập của kiểm toán nội bộ…Do có các chức năng quan trọng trên, nên hoạt động hữu hiệu của Ủy ban kiểm toán và Hội đồng quản trị có ảnh hưởng lớn đến môi trường kiểm soát. Các nhân tố được xem xét để đánh giá sự hữu hiệu của Hội đồng quản trị hoặc Ủy ban kiểm toán gồm mức độ độc lập, kinh nghiệm và uy tín của các thành viên trong Hội đồng quản trị hoặc Ủy ban kiểm toán, và mối quan hệ của họ với bộ phận kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập. Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý.