phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: 5 - Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động kiểm tra của cơ quan thuế đối với các doanh nghiệp - Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra của Cục thuế tỉnh Thái Nguyên đối với các doanh nghiệp thương mại - Chƣơng 3: Giải pháp tăng cường hoạt động kiểm tra của Cục thuế tỉnh Thái Nguyên đối với các doanh nghiệp thương mại 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA CỦA CƠ QUAN THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP 1. Thuế và tính tất yếu phải kiểm tra thuế 1. Khái niệm cơ bản về thuế Thuế là hình thức động viên mang tính chất bắt buộc trên nguyên tắc luật định. Đặc điểm này được thể chế hoá trong hiến pháp của mỗi quốc gia.
Nhà nước dùng quyền lực và sức mạnh để ấn định các thứ thuế, bắt buộc các tổ chức kinh tế và công dân thực hiện các nghĩa vụ thuế để nhà nước có nguồn thu ổn định, thường xuyên đảm bảo trang trải các khoản chi trong hoạt động thường xuyên của Nhà nước mà vẫn ổn định được ngân sách Nhà nước. Tổ chức hoặc cá nhân nào không thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế của mình tức là họ đã vi phạm pháp luật của quốc gia đó. Các khoản thuế đóng góp của dân tạo thành quỹ tiền tệ của Nhà nước. Cùng với sự hoàn thiện chức năng của Nhà nước, phạm vi sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước ngày càng mở rộng.
Nó không chỉ đảm bảo chi tiêu để duy trì quyền lực của bộ máy Nhà nước, mà còn để chi tiêu cho các nhu cầu phúc lợi chung và kinh tế. Thuế là một trong những biện pháp tài chính bắt buộc nhưng phi hình sự của Nhà nước nhằm động viên một số bộ phận thu nhập từ lao động, từ của cải, từ vốn, từ các chi tiêu hàng hoá và dịch vụ, từ tài sản của các thể nhân và pháp nhân nhằm tập trung vào tay Nhà nước để trang trải các khoản chi phí cho bộ máy nhà nước và các nhu cầu chung của xã hội. Các khoản thu qua thuế được thể chế bằng luật. Tính tất yếu phải kiểm tra thuế Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, kiểm tra thuế có vai trò quan trọng đối với quản lý thuế.
Đặc biệt, trong cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế hiện nay, kiểm tra thuế lại càng trở nên quan trọng trong hệ thống quản lý thuế. Cụ thể như sau: Thứ nhất, qua kiểm tra phát hiện những nhầm lẫn, sai sót của NNT và của 7 công chức thuế để nhắc nhở, chấn chỉnh, đảm bảo đúng quy định của pháp luật về thuế. Thứ hai, thông qua kiểm tra thuế để phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật thuế, trốn thuế, lậu thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời số thuế theo quy định pháp luật vào ngân sách nhà nước. Điều này, cũng góp phần đảm bảo công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế giữa những NNT khác nhau.
Thứ ba, thông qua kiểm tra thuế cảnh báo, ngăn ngừa các hành vi trốn thuế, lậu thuế. Với việc làm tốt công tác kiểm tra, cơ quan thuế đánh tín hiệu cho NNT biết nếu vi phạm pháp luật sẽ bị phát hiện và bị xử phạt. Bởi vậy, NNT phải cân nhắc giữa lợi ích có thể đạt được của việc trốn thuế (nếu không bị phát hiện) với khả năng bị phát hiện qua kiểm tra và bị xử phạt. Thứ tư, kiểm tra thuế góp phần hoàn thiện pháp luật thuế.
Qua kiểm tra sẽ phát hiện ra trong pháp luật thuế hiện nay có những điểm nào còn bất cập, gây khó khăn cho NNT khi thực hiện nghĩa vụ thuế cũng như gây khó khăn cho cán bộ thuế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra. Từ đó, cán bộ kiểm tra thuế có thể đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật thuế cho phù hợp với thực tế. Thứ năm, kiểm tra thuế góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Khi phát hiện ra những sai sót hay vi phạm của NNT, cán bộ kiểm tra phải xử lý bằng các hình thức xử phạt nghiêm minh.
Để NNT thấy rằng bất cứ ai cũng phải tuân thủ pháp luật. Những hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị xử phạt thích đáng. Xử lý đúng người, đúng tội sẽ nâng cao được hiệu lực của luật thuế. Những vấn đề cơ bản về hoạt động kiểm tra của cơ quan thuế thuế đối với các doanh nghiệp 1.
Khái niệm, đặc điểm về kiểm tra thuế Trong hoạt động quản lý, kiểm tra là một chức năng không thể thiếu và có thể được coi là một trong những chức năng quan trọng nhất. Điều này có nghĩa là đã có quản lý thì phải có kiểm tra. Quản lý mà không kiểm tra thì coi như không quản lý. Như vậy, muốn tiếp cận khái niệm kiểm tra thuế, trước hết cần tiếp cận khái niệm kiểm tra.
8 Kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”, để chỉ hoạt động của chủ thể tác động vào đối tượng kiểm. Kiểm tra là đo lường và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm đảm bảo rằng các mục tiêu và các kế hoạch vạch ra để thực hiện các mục tiêu này đã và đang được hoàn thành. Tuy nhiên, khái niệm kiểm tra có thể được hiểu theo 2 nghĩa: Theo nghĩa rộng, để chỉ hoạt động của các tổ chức xã hội, các đoàn thể và của công dân kiểm tra hoạt động bộ máy của nhà nước. Theo nghĩa này, tính quyền lực nhà nước trong kiểm tra bị hạn chế vì các chủ thể thực hiện kiểm tra không có quyền áp dụng trực tiếp những biện pháp cưỡng chế nhà nước.
Theo nghĩa hẹp hơn, kiểm tra là hoạt động của chủ thể nhằm tiến hành xem xét, xác minh một việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem có phù hợp hay không với trạng thái định trước (kiểm tra mang tính nội bộ của người đứng đầu cơ quan, kiểm tra phương tiện giao thông…). Theo nghĩa này, chủ thể kiểm tra có thể áp dụng một chế tài nhất định như áp dụng các hình thức kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc buộc phải thực hiện một số biện pháp ngăn chặn hành chính. Kiểm tra là chức năng chung của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính chức năng của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính phản hồi (rà soát, nhiều khi là phản ứng lại) đối với chu trình quản lý nhằm phân tích, đánh giá, theo dõi những mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đã đề ra. Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra [7, tr.
Kiểm tra thuế có các đặc điểm cơ bản như sau: Kiểm tra thuế có phạm vi rộng. Đối tượng kiểm tra là các tổ chức, cá nhân trong ngành thuế, bao gồm mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế. Kiểm tra thuế là một công tác rất khó khăn, phức tạp vì nó động chạm trực tiếp tới lợi ích kinh tế của NNT. Để che dấu các hành vi trốn thuế nhằm bảo vệ lợi 9 ích vật chất của mình, NNT thường tìm mọi biện pháp cản trở, gây khó khăn cho công tác kiểm tra của cơ quan thế.
Kiểm tra thuế đòi hỏi rất cao về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người cán bộ làm việc trong lĩnh vực này. Để xác định đúng đắn nghĩa vụ thuế của đối tượng được kiểm tra, đòi hỏi người cán bộ thuế không chỉ nắm chắc các luật thuế mà còn phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế của đối tượng kiểm tra, có nghĩa là người cán bộ kiểm tra thuế phải có sự am hiểu sâu rộng về kinh tế, giỏi kế toán, sâu sắc trong tư duy logic,… Đồng thời, người cán bộ kiểm tra thuế phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh vững vàng, vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ về vật chất. Mục tiêu của hoạt động kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp Hoạt động kiểm tra thuế nhằm giúp các doanh nghiệp và cơ quan thuế thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về công tác quản lý thu ngân sách đảm bảo thực hiện thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu vào ngân sách Nhà nước. Thông qua hoạt động kiểm tra thuế, cơ quan thuế có thể đấu tranh ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
Kiểm tra thuế là hoạt động thường xuyên của cơ quan quản lý Nhà nước nhằm đảm bảo cho các quyết định quản lý được chấp hành, bảo đảm mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả kiểm tra thuế, cơ quan thuế có thể đưa ra các giải pháp góp phần đẩy lùi tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, nâng cao hiệu quả quản lý thuế theo hướng an toàn hiệu quả. Trong hoạt động kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp phải đảm bảo tính đúng đắn khách quan, công khai, dân chủ, khi kết luận một vấn đề phải có chứng lý, không được suy diễn và thực hiện đúng quy trình do ngành thuế đã quy định. Đây chính là những yêu cầu hàng đầu của hoạt động kiểm tra thuế vì chỉ khi đảm bảo những yêu cầu này mới đạt được mục đích của hoạt động kiểm tra thuế, mới làm cho hoạt động kiểm tra thuế thực sự trở thành cán cân công lý và chiếm được sự tin tưởng của quần chúng nhân dân.
Nguyên tắc kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp 1. Nguyên tắc tuân thủ pháp luật Pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nước, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân. Kiểm tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật nên phải tuân thủ pháp luật. Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để nâng cao hiệu lực của hoạt động kiểm tra thuế; ngăn chặn tình trạng làm trái với các quy định của pháp luật.
Thực hiện đúng nguyên tắc này có nghĩa là các cơ quan và cán bộ kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định; xem xét sự đúng sai của các doanh nghiệp phải căn cứ vào quy định của pháp luật, không tuân theo ý kiến của bất cứ một cơ quan hoặc cá nhân nào.