CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa * Khái niệm DN DN là thuật ngữ có nguồn gốc từ lĩnh vực kinh tế học. DN như một cái phương tiện để thực hiện ý tưởng kinh doanh.
Muốn kinh doanh, thương nhân phải chọn lấy cho mình một trong số những loại hình DN mà pháp luật quy định. Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 của Việt Nam, khái niệm về DN như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”[23]. Theo quan điểm chức năng: “Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất trong đó là sự kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của doanh nghiệp thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy”. Theo quan điểm phát triển: “Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải.
Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch, và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được”. * Khái niệm DNNVV Ở Việt Nam, khái niệm DNNVV mới được biết đến từ năm 1990. Trong cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp loại 1, doanh nghiệp loại 2, doanh nghiệp loại 3 với tiêu chí phân loại chủ yếu là số lao động trong biên chế và phân theo cấp trung ương - địa phương. Trong đó DNNVV gần như tương ứng với doanh nghiệp loại 2 và loại 3.
Ngày 20/6/1998, Chính phủ đã có công văn số 681/CP-KCN về định hướng chiến lược và chính sách phát triển DNNVV. Theo công văn này thì “DNNVV là 6 van những doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng và lao động thường xuyên dưới 200 người”. Việc áp dụng một trong hai tiêu chí hoặc cả hai tiêu chí này tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, ngành, lĩnh vực. Đây có thể được coi là văn bản đầu tiên đưa ra tiêu chí xác định DNNVV, là cơ sở cho phép thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho khu vực này.
Theo quy định của Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 /06/2009 của Chính phủ về Trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ “DNNVV là đơn vị kinh doanh độc lập theo luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỉ đồng và/hoặc sử dụng lao động trung bình hằng năm không quá 300 người”[8]. Tất cả các doanh nghiệp tư nhân, nhà nước, hộ gia đình đều thuộc đối tượng điều chỉnh của luật này nếu họ đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên chính thức quy định về DNNVV, là cơ sở để thực hiện các chính sách và các biện pháp hỗ trợ cho các DNNVV. Từ đó đến nay khái niệm DNNVV được hiểu và áp dụng thống nhất trong cả nước.
* Tiêu chí xác định DNNVV ở Việt Nam Ở Việt Nam, Ngày 12/06/2017, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, đây là lần đầu tiên vấn đề này được quy định tại một luật riêng. Theo quy định tại Điều 4 của Luật này, thì “1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ”[24], cụ thể như sau: 7 van Bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam DN siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô nhỏ Lĩnh vực Số lao Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động động nguồn vốn động vốn I.
Nông, lâm 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 nghiệp và thủy trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công nghiệp 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 và xây dựng trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến 200 người 100 tỷ đồng 300 người III. Thương mại 10 người 10 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 và dịch vụ trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến 50 người 50 tỷ đồng 100 người Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp. Tóm lại: các nước trên thế giới có các tiêu chí khác nhau để xác định DNNVV, các tiêu chí đó thường không cố định mà thay đổi tùy theo ngành nghề và trình độ phát triển trong từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Vai trò của DNNVV Trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân, các DNNVV đã đóng góp nhiều vào nền kinh tế, biểu hiện: - Góp phần làm tăng GDP, tăng thu nhập cho người lao động và giá trị xuất khẩu cho nền kinh tế Sự phát triển ngày càng mạnh của các DNNVV đã làm tăng tỷ trọng của khu vực này trong GDP và góp phần làm cho tốc độ tăng trưởng nền kinh tế nâng lên rõ rệt do tốc độ tăng của các DNNVV thường cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình của nền kinh tế. Các DN ra đời sẽ tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường lao động cũng như giá trị của người lao động. Mặt khác, khác DNNVV đóng góp một phần đáng kể vào giá trị xuất khẩu hàng năm của nền kinh tế quốc dân. Kết quả những năm qua cho thấy các DNNVV góp phần làm tăng 8 van trưởng kinh tế, làm cho nền kinh tế năng động và hoạt động hiệu quả hơn.
- Góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập cho dân cư Sự phát triển của DNNVV tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng, vì DNNVV thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh. Đặc biệt, đối với khu vực nông thôn, sự phát triển của DNNVV không chỉ làm cho công nghiệp phát triển mạnh, mà còn thúc đẩy sự phát triển các ngành thương mại, dịch vụ. DNNVV là cầu nối giữa công nghiệp hiện đại với tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp phi tập trung, làm cơ sở và tiền đề cho phát triển công nghiệp hiện đại. Do đó, DNNVV đóng vai trò quan trọng trong việc làm thay đổi và đa dạng hoá cơ cấu công nghiệp, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần làm cho tỷ trọng của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ngày càng thu hẹp, tỷ trọng của các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ ngày càng tăng lên.
- Tăng hiệu quả kinh tế, làm năng động nền kinh tế DNNVV là nhân tố tạo nên sự năng động của nền kinh tế trong cơ chế thị trường. Do số lượng các DNNVV tăng lên rất nhanh, làm gia tăng số lượng, chủng loại hàng hoá, dịch vụ và làm tăng tính cạnh tranh trong nền kinh tế. Chính sự cạnh tranh của DN trong việc tìm kiếm thị trường, mẫu mã sản phẩm, giá cả hàng hóa… mà nền kinh tế ngày càng trở nên năng động. Với quy mô nhỏ và vừa, được thành lập phân tán ở hầu khắp các địa phương, các khu vực, DNNVV có khả năng tận dụng các tiềm năng về lao động, nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương, sử dụng sản phẩm phụ hoặc phế liệu, phế phẩm của DN lớn.
Lợi thế của quy mô nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh với nhiều hình thức, có nhiều khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng sản xuất, đổi mới công nghệ, sự kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hoá mềm dẻo, đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường. Nên DNNVV đã và đang là lực lượng chủ yếu đảm bảo lưu thông hàng hoá trong xã hội và có vai trò quan trọng trong việc góp phần làm tăng tính năng động của nền kinh tế. 9 van - Tăng tốc độ áp dụng công nghệ mới trong sản xuất, thu hút vốn trong khu vực dân cư Vốn là một yếu tố cơ bản của quá trình SXKD, có vai trò quyết định đến sự phát triển của DN nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. Vì qui mô nhỏ, cần ít vốn, thời gian quay vòng vốn nhanh; lại gặp phải khó khăn trong việc vay các nguồn vố tín dụng nên các DNNVV chủ yếu huy động vốn trong gia đình, bạn bè, dân cư để đầu tư SXKD.
Mặc dù có những hạn chế về vốn, song các DNNVV thường là những đơn vị tiên phong trong việc đổi mới công nghệ và áp dụng những sáng kiến cải tiến kỹ thuật. Các DNNVV luôn phải cạnh tranh với nhau và với các DN lớn vì vậy để tồn tại họ luôn phải duy trì sự khác biệt về các sản phẩm của mình. Muốn có sự khác biệt về sản phẩm thì những cải tiến và phát triển công nghệ mới mang tính đặc trưng riêng luôn là một đòi hỏi chính đáng và bức thiết. Hơn nữa, các DNNVV không thể cạnh tranh với các DN lớn về giá do bất lợi về qui mô, nên để cạnh tranh thì việc tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm của mình là tất yếu để tồn tại.
- Tạo đà cho việc hình thành các DN lớn và các nhà kinh doanh giỏi Các ý tưởng kinh doanh nếu được đưa vào thị trường và tồn tại được sẽ hình thành các DN có qui mô nhỏ và vừa. Ban đầu chỉ là những ý tưởng kinh doanh của những nhà kinh doanh trẻ tuổi về những lĩnh vực kinh doanh, những sản phẩm mới, nhưng nếu phù hợp với xu hướng của thị trường và quản lý giỏi thì DN ngày càng phát triển và qui mô ngày càng tăng.