Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ THANH TRA TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. Cơ sở lý luận về thanh tra tài chính đối với đơn vị hành chính sự nghiệp 1. Khái niệm thanh tra, thanh tra tài chính * Thanh tra Thanh tra là một phạm trù luôn gắn liền với hoạt động quản lý của nhà nước. Nhà nước là cơ quan có quyền lực công với sứ mạng lịch sử là duy trì trật tự xã hội và tổ chức phát triển xã hội.
Để thực hiện sứ mạng lịch sử đó, Nhà nước thực hiện sự quản lý đối với các hoạt động xã hội. Nhiệm vụ cơ bản trong quản lý kinh tế xã hội của Nhà nước là dự đoán, kế hoạch, tổ chức, động viên, điều hành, thanh tra, kiểm tra. Một số quan niệm về thanh tra như sau: Theo giáo trình Thanh tra tài chính của Học viện Tài chính năm 2009: “Thanh tra là hoạt động kiểm tra của tổ chức thanh tra nhà nước đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, chấn chỉnh những sai lầm, xử lý những vi phạm trong các hoạt động kinh tế xã hội giúp cho bộ máy quản lý vận hành tốt” (Học viện tài chính, 2009). Theo Điều 2 Luật Thanh tra: “Hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.
(Luật thanh tra, 2012) n 6 * Thanh tra tài chính Thanh tra tài chính là một hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực tài chính. Về bản chất, thanh tra tài chính là một chức năng của quản lý nhà nước về tài chính, là hoạt động kiểm tra, xem xét của cơ quan thanh tra với nội dung tài chính, góc độ tài chính tới đối tượng được thanh tra, nhằm đảm bảo cho các chính sách, chế độ tài chính, kế toán của Nhà nước được thực hiện nghiêm chỉnh và công bằng, phát huy các nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, tài chính. Đặc trưng của thanh tra tài chính Ngoài những đặc điểm chung với các loại hình thanh tra khác nhau, thanh tra tài chính còn mang những đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất: Thanh tra tài chính là việc sử dụng tài chính làm công cụ kiểm tra, giám đốc bằng đồng tiền thông qua việc sử dụng chức năng thước đo giá trị và phương tiện thanh toán của tiền tệ. Các hoạt động nghiệp vụ thanh tra tài chính căn cứ chủ yếu vào các chế độ, chính sách về tài chính làm cơ sở thanh tra, kiểm tra đối với đối tượng được thanh tra.
Cán bộ thanh tra sử dụng các biện pháp nghiệp vụ thông qua việc sử dụng công cụ tài chính như phân tích, đánh giá các chỉ tiêu về tài chính; kiểm tra các nghiệp vụ kinh tế tài chính của đối tượng thanh tra. Các số liệu về tài chính phản ánh hoạt động của đối tượng thanh tra đều được lượng hóa qua thước đo giá trị của tiền tệ. Các sai phạm về tài chính, các xử lý của thanh tra về tài chính đều sử dụng thước đo giá trị của tiền tệ để lượng hóa. Thứ hai: Thanh tra tài chính là loại hình hoạt động tổng hợp và đa dạng.
Hoạt động tài chính gắn liền với các hoạt động kinh tế xã hội, liên quan đến mọi ngành, mọi cấp, mọi đơn vị và công dân. Vì vậy, hoạt động thanh tra tài chính là loại hình hoạt động tổng hợp và đa dạng. n 7 Tính đa dạng của thanh tra tài chính biểu hiện ở sự việc thanh tra, đối tượng thanh tra, hình thức thanh tra là khác nhau ở mỗi cuộc thanh tra như thanh tra quản lý và điều hành ngân sách, thanh tra quản lý sử dụng vốn đầu tư cơ bản, thanh tra tài chính. Tính tổng hợp của thanh tra tài chính biểu hiện ở sự việc hay nội dung thanh tra có liên quan đến nhiều lĩnh vực, mỗi lĩnh vực lại tổng hợp nhiều vấn đề có ảnh hưởng lẫn nhau.
Kết quả của thanh tra tài chính là những kết luận, giải quyết xử lý không chỉ có giá trị đối với đơn vị được thanh tra, mà còn có tác dụng chung trong hệ thống quản lý tài chính. Thứ ba: tổ chức và cá nhân được thanh tra tài chính vừa là đối tượng vừa là chủ thể quản lý Là đối tượng thanh tra: các tổ chức và cá nhân được thanh tra tài chính có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của đoàn thanh tra, có trách nhiệm pháp lý đối với những tài liệu, số liệu đã cung cấp theo yêu cầu của đoàn thanh tra. Là chủ thể quản lý: Họ có trách nhiệm về hoạt động của mình. Họ được quyền biết mục đích, yêu cầu, nội dung, kế hoạch thanh tra, được tham gia thảo luận những nhận xét, kết luận cũng như những giải pháp xử lý của đoàn thanh tra, được quyền giải trình những điểm chưa nhất trí với thanh tra, đồng thời có trách nhiệm tổ chức thực hiện những kiến nghị xử lý đối với những sai phạm.
Xem xét các đặc điểm của hoạt động thanh tra tài chính cho thấy mỗi sự việc, nội dung thanh tra tài chính có liên quan đến nhiều yếu tố, khi tiến hành thanh tra phải nghiên cứu, phân tích toàn diện, tìm ra những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự việc, nội dung thanh tra và trên cơ sở đó rút ra những kết luận có giá trị thiết thực không chỉ với đối tượng thanh tra mà còn đối với hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý tài chính nói riêng. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ Cơ quan hành chính nhà nước được chia làm hai loại là cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương gồm: Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ. Đây là những cơ quan hành chính nhà nước có chức năng quản lí hành chính nhà nước trong toàn bộ lãnh thổ, đóng vai trò quan trọng, chỉ đạo các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Phần lớn các văn bản pháp luật do các cơ quan này ban hành có hiệu lực trong cả nước. Cơ quan hành chính nhà nước từ địa phương gồm ủy ban nhân dân cấp tỉnh, ủy ban nhân dân cấp huyện, ủy ban nhàn dân cấp xã. Những cơ quan này có chức năng quản lí hành chính nhà nước trong mọi lĩnh vực trên phạm vi lãnh thổ tương ứng được giới hạn trên cơ sở phân chia địa giới hành chính. Các văn bản pháp luật do cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương ban hành thường chỉ có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ hoạt dộng của cơ quan đó.
Căn cứ vào thẩm quyền Cơ quan hành chính nhà nước được chia thành cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung và cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn. Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung gồm: Chính phủ và ủy ban nhân dân các cấp. Các cơ quan này có chức năng quản lí hành chính nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn gồm bộ và các cơ quan ngang bộ có chức năng quản lí hành chính nhà nước về ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước.
Căn cứ vào nguyên tắc tổ chức và giải quyết công việc Cơ quan hành chính nhà nước được chia thành cơ quan hành chính nhà nước tổ chức và hoạt động theo chế độ tập thể lãnh đạo và cơ quan hành chính nhà nước tổ chức và hoạt động theo chế độ thủ trưởng một người. n 9 Cơ quan hành chính nhà nước tổ chức và hoạt động theo chế độ tập thể lãnh đạo là Chính phủ và ủy ban nhân dân các cấp. Đây là những cơ quan có thẩm quyền quyết định những vấn đề quan trọng, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau nên cần có sự đóng góp ý kiến và bàn bạc tập thể. Cơ quan hành chính nhà nước tổ chức và hoạt động theo chế độ thủ trưởng là bộ, cơ quan ngang bộ.
Công việc của các cơ quan này đòi hỏi phải giải quyết nhanh chóng, vì vậy chế độ trách nhiệm chủ yếu là trách nhiệm cá nhân. Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ là trung tâm lãnh đạo và quyết định của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ là quyết định của cơ quan. Mục đích, nguyên tắc của việc thanh tra tài chính * Mục đích - Mục đích chủ yếu của hoạt động thanh tra tài chính là phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính để đảm bảo việc quản lý, sử dụng tài chính ngân sách đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, đúng chế độ, chính sách và các quy định của nhà nước. - Phát hiện những sơ hở, khiếm khuyết trong cơ chế, chính sách, pháp luật về tài chính để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khắc phục.
Việc một chính sách pháp luật đi vào thực tiễn có phù hợp hay không, có phát huy hết hiệu quả hay không là điều rất quan trong trong hoạt động quản lý. Hoạt động thanh tra được tiến hành cũng nhằm mục đích phát hiện những kẽ hở trong cơ chế, chính sách có thể bị các đối tượng bị quản lý lợi dụng gây hậu quả xấu đối với xã hội, đối với nhà nước. - Phát hiện nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tài chính góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cùng với việc phát hiện, xử lý các tồn tại, vi phạm hoạt động thanh tra cũng như cần đánh giá đúng thực chất hoạt động của đối tượng thanh tra, ghi nhận và động viên những nhân tố tích cực qua đó góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động quản lý.
(Đinh Văn Minh, 2015) n 10 * Nguyên tắc Nguyên tắc hoạt động thanh tra tài chính cũng dựa trên những nguyên tắc của hoạt động thanh tra nói chung.