CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TRA TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DNNN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan Tính đến nay, đã có nhiều đề tài, luận văn, luận án nghiên cứu về công tác thanh tra, kiểm tra tài chính nói chung và công tác thanh tra của Thanh tra Bộ Tài chính nói riêng, cụ thể: - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra tài chính đối với các cơ quan khoán chi hành chính, đơn vị sự nghiệp có thu thực hiện cơ chế tự chủ tài chính” của Thanh tra Bộ Tài chính, năm 2005, đã nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra tài chính đối với các cơ quan hành chính khoán chi, đơn vị sự nghiệp có thu thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính; tập trung phân tích về công tác quản lý tài chính ở một số đơn vị thuộc lĩnh vực sự nghiệp khoa học, sự nghiệp kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá; đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra tài chính đối với các cơ quan hành chính khoán chi và các đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính. - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Thanh tra, kiểm tra tài chính đối với công ty cổ phần ở Việt Nam”, Thanh tra Bộ Tài chính, năm 2007, đã đưa ra những đánh giá về thực trạng thanh tra, kiểm tra tài chính đối với công ty cổ phần được chuyển đổi từ công ty nhà nước, phân tích những thuận lợi, khó khăn và đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra tài chính đối với công ty cổ phần. - Luận án tiến sỹ “Nâng cao hiệu quả, hiệu lực thanh tra tài chính dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước ở Việt Nam” Nguyễn Văn Bình, năm 2010, đã làm sáng tỏ những vấn đề có liên quan đến hoạt động thanh tra tài chính dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước cả về phương diện lý 4 z luận và thực tiễn, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả, hiệu lực thanh tra tài chính dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, phòng chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí vốn đầu tư trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.
- Luận văn thạc sỹ “Đổi mới cơ chế thanh tra tài chính trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Vũ Hồng Hải, năm 2005, đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận và phân tích thực tiễn về cơ chế thanh tra tài chính, luận văn đã đưa ra những quan điểm và đề xuất hệ thống các giải pháp đổi mới cơ chế thanh tra tài chính ở nước ta trong thời gian tới. - Luận văn thạc sỹ “Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thanh tra tài chính đến năm 2012” của tác giả Nguyễn Kim Liên, năm 2007, đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ thanh tra tài chính, những kết quả đạt được, những bất cập, hạn chế và nguyên nhân; đề xuất những giải pháp nâng cao đội ngũ cán bộ thanh tra tài chính đến năm 2012. - Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp lớn trên địa bàn tỉnh Nghệ An” của tác giả Nguyễn Quốc Đạt, năm 2012, đã làm rõ thực trạng công tác thanh tra thuế tại các doanh nghiệp lớn, đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra thuế tại các doanh nghiệp lớn trên địa bàn tỉnh Nghệ An, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh tra thuế tại các doanh nghiệp lớn trên địa bàn tỉnh. - Văn kiện Dự án “Tăng cường năng lực tổng thể Thanh tra Tài chính đến năm 2014” của Thanh tra Bộ Tài chính, năm 2009, trên cơ sở phân tích thực trạng, hệ thống các vấn đề đã đưa ra các giải pháp nhằm mục tiêu xây dựng cơ bản thể chế hoạt động cho thanh tra tài chính đảm bảo đồng bộ, đủ mạnh, tiếp thu các chuẩn mực và thông lệ quốc tế; tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ; kiện toàn tổ chức; hiện đại hoá hệ thống thông tin đáp ứng tốt yêu 5 z cầu nhiệm vụ thanh tra tài chính, góp phần quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của đất nước và phòng, chống tham nhũng.
Các đề tài, đề án đã đưa ra những nghiên cứu, đánh giá về thực trạng công tác thanh tra tài chính nói chung và hoạt động thanh tra tài chính một số lĩnh vực cụ thể, đồng thời đã đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động thanh tra tài chính. Các đề tài, đề án đã góp phần vào những thay đổi trong tổ chức và hoạt động thanh tra của ngành Tài chính nói chung và Thanh tra Bộ Tài chính nói riêng, đã thiết thực tăng cường năng lực thanh tra tài chính trong phát hiện và xử lý các sai phạm về quản lý tài chính ngân sách, kiến nghị sửa đổi, bổ sung có hiệu quả chính sách chế độ quản lý tài chính. Với rất nhiều đề tài nghiên cứu về công tác thanh tra tài chính, nhưng cho đến nay, chưa có một nghiên cứu cụ thể về công tác thanh tra tài chính đối với các DNNN của Thanh tra Bộ Tài chính. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn, mang tính thời sự, nhằm đưa ra các đánh giá, đề xuất nhằm tăng cường hoạt động thanh tra tài chính của Thanh tra Bộ Tài chính đối với các DNNN trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn này mong muốn sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra ngành Tài chính nói chung và hoạt động thanh tra tài chính đối với các DNNN của Thanh tra Bộ Tài chính nói riêng. Luận văn xin kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã công bố có liên quan để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình. Những vấn đề cơ bản về DNNN 1. Khái niệm, đặc điểm của DNNN Ở nước ta, khái niệm về DNNN có sự thay đổi theo từng giai đoạn.
Thuật ngữ doanh nghiệp nhà nước được sử dụng chính thức trong Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 ban hành Quy chế về thành lập và giải thể 6 z doanh nghiệp nhà nước. Điều 1 của Nghị định này đã định nghĩa “Doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh doanh do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách người chủ sở hữu. DNNN là một pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật”. Quá trình đổi mới vừa qua, chúng ta đã hoàn thiện dần quan niệm về DNNN.
Điều này thể hiện rõ trong các văn bản pháp lý mà tiêu biểu như Luật doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 20/4/1995. Theo quan niệm này: DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh, hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước giao. DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. Vốn do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý là vốn ngân sách cấp, vốn có nguồn gốc từ ngân sách và vốn của doanh nghiệp tự tích lũy.
Theo Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 do Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014 thì “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”. DNNN mang các đặc điểm chung như các loại hình doanh nghiệp khác, cụ thể: - Chức năng kinh doanh của DNNN bao gồm: sản xuất, cung ứng, trao đổi, hợp tác và tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. - DNNN có vốn và tài sản riêng; có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình theo quy định của pháp luật. Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về quản lý, về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi doanh nghiệp phá sản hay giải thể.
DNNN có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động sản xuất kinh doanh. 7 z - Hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN chịu sự chi phối và tác động của môi trường kinh tế xã hội. Để các doanh nghiệp tồn tại và phát triển, Nhà nước cần tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định như vấn đề về tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, bảo hộ sản xuất trong nước, nâng cao khả năng cạnh tranh. Bên cạnh đó, DNNN được phân biệt với các loại hình doanh nghiệp khác bởi các đặc điểm sau: - DNNN do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao.
Như vậy, DNNN không chỉ được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh (nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế) mà còn được thành lập để thực hiện các hoạt động công ích (thực hiện các mục tiêu xã hội). Các loại hình doanh nghiệp khác không phải do Nhà nước thành lập và mục tiêu hoạt động duy nhất của các loại hình doanh nghiệp này là lợi nhuận. - DNNN do Nhà nước tổ chức quản lý. Đó là tổ chức kinh tế của nhà nước, do đó DNNN là đối tượng quản lý của Nhà nước.
Nhà nước tổ chức bộ máy quản lý các DNNN nói chung và bộ máy quản lý từng doanh nghiệp nói riêng; Nhà nước bổ nhiệm các cán bộ chủ chốt của doanh nghiệp, phê duyệt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn hay trung hạn của doanh nghiệp. - Tài sản của DNNN là một bộ phận tài sản của nhà nước. DNNN do Nhà nước đầu tư vốn để thành lập nên nó thuộc sở hữu Nhà nước. DNNN là một chủ thể kinh doanh quản lý và tiến hành hoạt động kinh doanh trên số tài sản của Nhà nước giao cho.
Trong khi đó, các chủ thể kinh doanh khác đều là chủ sở hữu với tài sản kinh doanh của họ. Phân loại DNNN Có nhiều cách phân loại DNNN khác nhau. Cách phân loại chủ yếu đối với DNNN là căn cứ vào chức năng hoạt động của doanh nghiệp.